Lưu trữ

Posts Tagged ‘Tăng Thiết giáp’

Trên bãi tập “trường Tăng”

Với các học viên của Trường Hạ sĩ quan xe tăng 1, bãi tập chính là giảng đường, nơi giúp họ trau dồi phẩm chất đạo đức, rèn luyện ý chí quyết tâm và sử dụng thành thạo vũ khí, khí tài trang bị…

Không kể thời tiết nắng mưa, các cán bộ và học viên của trường luôn chấp hành nghiêm kỷ luật và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ huấn luyện, xứng đáng là người chiến sĩ Tăng thiết giáp ưu tú.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường, Báo Quân đội Nhân dân Điện tử xin giới thiệu một số hình ảnh về một số hoạt động huấn luyện của trường.

Phổ biến kế hoạch luyện tập

Phổ biến kế hoạch luyện tập

 

Tiến công tiêu diệt địch

Tiến công tiêu diệt địch

Chiến sĩ lái xe

Chiến sĩ lái xe

 

Hành quân huấn luyện

Hành quân huấn luyện

Rút kinh nghiệm trên đường hành quân  Thao trường nắng và gió giúp các chiến sĩ thêm quyết tâm

Rút kinh nghiệm trên đường hành quân
Thao trường nắng và gió giúp các chiến sĩ thêm quyết tâm

 

Các cô giáo nhà trường địa phương chúc mừng cán bộ, chiến sĩ đơn vị

Các cô giáo nhà trường địa phương chúc mừng cán bộ, chiến sĩ đơn vị

Bảo quản vũ khí trang bị

Bảo quản vũ khí trang bị

Theo QĐND Online

 

 

 

Tăng – thiết giáp Việt Nam: Bản hùng ca nửa thế kỷ

“Đã ra quân là đánh thắng” – câu nói đã ngấm vào máu, khắc vào xương, là niềm tự hào đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của những người lính xe tăng đã viết lên những bản hùng ca 52 năm qua.

I. ĐÒN PHỦ ĐẦU NGỠ NGÀNG

Năm 1968, lần đầu tiên xe tăng Việt Nam xuất kích, địch đã hoàn toàn bị bất ngờ, hoảng loạn chỉ còn biết tháo chạy. Chiến thắng vang dội ở Tà Mây – Làng Vây, góp phần vào chiến thắng chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, đi vào lịch sử Binh chủng Tăng – Thiết giáp như một mốc son chói lọi, mở đầu cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”.

Ngày 5/8/1967, sau gần 8 năm thành lập, Bộ Tư lệnh thiết giáp được lệnh sử dụng 2 đại đội xe tăng vào Nam chiến đấu. Hai đại đội PT-76 (đại đội 3 và đại đội 9) của Trung đoàn xe tăng H03 được lựa chọn và tổ chức thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 198. Ngày 1/10/1967, tiểu đoàn 198 bắt đầu Nam tiến.

Sáng tạo táo bạo

Hơn 2 tháng hành quân bằng bánh xích, vượt trên 1.000 km đường Trường Sơn, toàn tiểu đoàn đến vị trí tập kết với 100% trang bị chiến đấu. Suốt chặng đường hành quân phải đảm bảo tuyệt đối bí mật ấy, những người lính xe tăng đã có nhiều sáng tạo đến táo bạo. Theo thiếu tướng Lê Xuân Tấu, nguyên trưởng xe tăng 555, đơn vị di chuyển chủ yếu vào ban đêm bằng đèn gầm có lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng.

Những đêm mù sương, các trưởng xe phải đi bộ trước mũi xe, khoác dù trắng dẫn đường. Các kíp xe phải dùng cành cây tươi phủ lên ống xả, vừa ngăn được tiếng ồn, vừa tránh bụi lửa phóng ra từ ống xả. Một bộ bánh xích chỉ cho phép chạy được từ 400 đến 500km trong điều kiện đường tốt. Lần này, do xe tăng của ta phải vượt đoạn đường với địa hình phức tạp, nhiều đá to, ngầm, sông… đặc biệt là phải đi dưới làn bom, đạn pháo địch, nên hơn 90% bánh đỡ nặng và gần 50% mắt xích bị hỏng.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Mắt xích và bánh chịu nặng của xe PT-76 đã vượt hơn 1.000km đường Trường Sơn vào tham gia trận đánh Làng Vây năm 1968. Ảnh: Hà Dương.

Các kíp xe đã đảo xích bên phải sang bên trái và ngược lại, đồng thời, lắp xen kẽ mắt xích lành với mắt xích hỏng để đảm bảo hành quân – cái sáng tạo chỉ có ở người lính xe tăng Việt Nam. Tới điểm tập kết, đơn vị đã nhanh chóng ổn định trú quân an toàn, khắc phục các sự cố của xe, sẵn sàng chiến đấu.

Hằng ngày, máy bay trinh sát địch luôn vè vè trên đầu, máy bay B-52 chốc chốc lại giội bom bừa bãi xuống những nơi nghi vấn, nhưng chúng không thể phát hiện ra hàng chục xe tăng nằm chình ình hơn 10 ngày ngay sát cứ điểm, trên đồi không có lấy một bóng cây chỉ bạt ngàn cỏ tranh. Vì xe đã được phủ bằt các sọt cỏ tranh được trồng và tưới nước hằng ngày.

Nguyên Đại đội trưởng Đại đội tăng 9 Ngô Xuân Nghiêm, cho biết, trong từng trận chiến đấu, tính sáng tạo của lính tăng cũng được thể hiện hết sức sinh động. Câu chuyện kíp xe 569 là ví dụ. Lái xe Phạm Văn Hương bị thương ở chân. Vì không có lái xe thay thế, kíp xe đã sáng kiến Hương lái, còn pháo thủ dùng chân đạp cần lái. Nhờ đó, xe tăng 569 vẫn cùng đồng đội lao về phía trước tiêu diệt địch. Hay chuyện chiếc kính ngắm của xe 565 bị hỏng, pháo thủ đã trực tiếp ngắm qua nòng pháo để tiêu diệt mục tiêu… Những sáng tạo đó đã góp phần làm nên chiến thắng.

Tập kích bất ngờ

Thắng lợi Tà Mây – Làng Vây có vai trò rất lớn của việc bảo đảm bí mật, bất ngờ trong hành quân, trú quân và tập kết chiến đấu. Địch không hề biết về sự có mặt của tiểu đoàn xe tăng đầu tiên của ta trên chiến trường và cũng không biết bằng cách nào ta có thể đưa được những chiếc xe tăng vượt qua núi rừng Trường Sơn điệp trùng hiểm trở.

Yếu tố bí mật đó thật sự tạo nên bất ngờ rất lớn trong trận Huội San (Tà Mây). Ngày 24/1/1968, đại đội xe tăng 3 đã tấn công cứ điểm này. Hai xe tăng 555 và 558 đã lao thẳng vào căn cứ của địch, bắn sập các lô cốt, hỏa điểm của địch. Bất ngờ trước sự xuất hiện của xe tăng ta, quân địch hoảng hốt tháo chạy tán loạn, quân ta làm chủ trận địa trong một thời gian ngắn.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đoàn tiền trạm của Tiểu đoàn 198 chuẩn bị cho trận đánh Tà Mây – Làng Vây. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Đến khi đánh cứ điểm Làng Vây, yếu tố bất ngờ về sự xuất hiện của xe tăng không còn nữa, ta lại tạo ra sự bất ngờ mới về hướng tiến công. Để chuẩn bị tiến công, từ ngày 19/1/1968, đại đội tăng 9 đã nhiều lần cùng bộ đội công binh dùng mảng nứa, bí mật thăm dò lòng sông Sêpôn, xác định đường, bến, phương án lái trên sông và đề ra các biện pháp khắc phục cụ thể.

Đại đội xe tăng 9 bơi xuôi theo dòng sông Sêpôn từ vị trí tập kết chiến đấu ở đồi Pê Sai vào tuyến điều chỉnh cuối cùng ở Làng Troài, cách địch gần 2km. Sông Sêpôn nhỏ hẹp, quanh co, lòng sông đầy đá hộc, bờ sông dốc dựng đứng, địch hoàn toàn không ngờ xe tăng ta có thể vận động theo dòng sông để tập kích vào hướng này.

Các chiến sỹ công binh đã bơi lặn trong dòng nước lạnh buốt đo mực nước, đánh dấu các khu vực có đá ngầm và phá những tảng đá to trên quãng sông nước cạn, để mở đường cho xe tăng đi bằng xích. Những đoạn có nhiều đá ngầm, các chiến sĩ công binh quấn dù trắng trên mình, đứng dọc hai bên để làm lộ tiêu sống dẫn đường cho xe tăng bơi. Đại đội tăng 3 xuất kích theo đường 9, đến 23g cả 8 xe đều đến được vị trí cuối cùng ở khu vực cầu Bi Hiên cách cứ điểm địch khoảng 2km. Lúc này pháo binh địch từ Tà Cơn và hỏa lực địch trong căn cứ Làng Vây bắn mạnh ra trên cả hai hướng, máy bay địch cũng bắt đầu thả pháo sáng, bắn phá ngăn chặn ta tiến công.

Đúng 23g25, ngày 6/2/1968, Sở chỉ huy hạ lệnh và phát tín hiệu xung phong. Xe tăng của ta đồng loạt vượt cửa mở, dẫn bộ binh xung phong vào trong cứ điểm của địch. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy phòng ngự trong công sự vững chắc trên điểm cao. Xe tăng cùng bộ binh đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch.

Ở Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp, có một hiện vật không thuộc nhóm vũ khí khiến khách tham quan không khỏi rưng rưng. Đó chính là nắm cơm bị cháy.

II. NẮM CƠM BẤT TỬ

Đầu năm 1972, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch xuân – hè nhằm tiêu diệt căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh bằng trận chiến hiệp đồng binh chủng có xe tăng tham gia, góp phần tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch.

Như mũi tên thép

Đăk Tô – Tân Cảnh vốn là căn cứ quân sự mạnh nhất của ngụy quân ở bắc Tây Nguyên, mà Mỹ – ngụy cho là vành đai thép án ngữ hành lang Trường Sơn, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đầu năm 1972, ở đây có 28 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu doàn pháo binh và 4 tiểu đoàn thiết giáp. Phần lớn lực lượng địch được bố trí ở dãy cao điểm phía tây sông Pôkô, hình thành tuyến phòng ngự lâm thời từ xa bảo vệ thị xã Kon Tum.

Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh là giải phóng 1/3 mạn bắc tỉnh Kon Tum, làm sụp đổ tuyến phòng thủ bắc Tây Nguyên của quân đội Sài Gòn. Sau khi vừa tham chiến ở Đường 9 – Nam Lào trở về, tiểu đoàn 297 tăng thiết giáp lại được lệnh tiến vào chiến trường Tây Nguyên với khẩu hiệu “Tiến sâu – Ở lâu – Đánh thắng!”. Sau 2,5 tháng hành quân, đến đầu năm 1972 thì tới ngã ba biên giới Đông Dương.

Đêm 23/4/1972, từ ngầm sông Pô Kô Hạ, đại đội 7 gồm 9 chiếc xe tăng cùng trung đoàn 66 bộ binh bắt đầu xuất kích. 1g ngày 24/4/1972, xe 377 dẫn đầu tấn công vào hướng đông căn cứ e42 – Tân Cảnh, mở màn trận đánh tiêu diệt cụm cứ điểm này. Sau hơn nửa giờ chiến đấu ác liệt, căn cứ của địch chìm trong khói lửa.

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô - Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Xe 377 cùng đồng đội xuất kích trong trận Đắk Tô – Tân Cảnh 1972 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Đến 4h30, xe 377 dẫn đầu cho bộ binh và xe 357 xốc tới, dũng mãnh tấn công, như một mũi thép lướt qua công sự, chiến hào, vật cản của địch… tiến thẳng vào sở chỉ huy e42, khiến đại tá cố vấn Mỹ, đại tá Lê Đức Đạt chết tại chỗ, đại tá Vi Văn Bình bị bắt sống. Đến 8h cùng ngày, ta cơ bản làm chủ khu vực Đăk Tô – Tân Cảnh.

Quân ta bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 pháo 105 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả pháo và toàn bộ phương tiện chiến tranh của địch, bắt 429 tù binh ngụy. Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định điều một trung đội xe tăng, gồm xe 377, 354, 369 vận động theo đường 18 lên hiệp đồng với Trung đoàn 1, Đoàn 2, tiêu diệt địch ở căn cứ Đăk Tô 2.

Một đấu mười

Mặc dù không có thời gian chuẩn bị nhưng, Thiếu uý Nguyễn Nhân Triển, Trung đội trưởng Trung đội tăng 3 (ngồi trên xe 377) đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, vừa cơ động, quan sát nắm địch, đồng thời dẫn trung đội vận động với tốc độ cao, dũng cảm vượt qua các trận địa, sự bắn phá ác liệt của máy bay địch để đến căn cứ Đăk Tô 2 trước thời gian.

Xe 377 lại tiếp tục dẫn đầu hai xe 354 và 369 lao thẳng vào cứ điểm. Vì gặp chướng ngại vật nên hai xe kia bị tụt lại phía sau. Địch thấy chỉ có mỗi một xe 377 đơn độc bèn cho xuất kích 10 chiếc tăng M41 chia làm 2 mũi bao vây. Xe 377 lọt vào giữa vòng vây của địch. Cuộc đấu 1 chọi 10 diễn ra ác liệt.

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Xe 377, huyền thoại của Binh chủng Tăng Thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trong tình thế nguy nan, Nguyễn Nhân Triển đã bình tĩnh chỉ huy đơn vị chiến đấu, bắn cháy 7 xe M41, làm rối loạn đội hình địch. Xe tăng 354, 369 trên đường cơ động, biết xe 377 gặp khó khăn chờ chi viện đã chạy với tốc độ cao nhất lao lên trận địa, bắn cháy 3 xe tăng địch. Lúc đó, một xe tăng địch ở phía Nam sân bay dã chiến Phượng Hoàng bắn trúng xe 377.

Dù xe bốc cháy, nhưng kíp xe vẫn kiên cường truy kích địch. Nhưng cuối cùng 4 chiến sĩ trong xe là Trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, Hạ sĩ pháo thủ Hoàng Văn Ái, Nguyễn Đắc Lương và Hạ sĩ lái xe Cao Trần Vịnh đã anh dũng hy sinh. Lúc này xe tăng, bộ binh ta mãnh liệt tiến lên tràn vào tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Đăk Tô 2.

11h30 hôm ấy lá cờ của Tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 tung bay trên cứ điểm Đăk Tô. Quân địch đóng ở các căn cứ Ngok Bờ lêng, Ngok Rinh Rua, Tri Lễ, quận ĐăkTô, rút chạy toán loạn. Một vùng đất từ Diên Bình, qua Tân Cảnh đến ĐăkTô, về Đăk Mot và hàng chục ngàn đồng bào các dân tộc Kontum được giải phóng.

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Xác những chiếc xe tăng Mỹ do kíp xe 377 bắn cháy tại trận Đắk Tô 2 (Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp).

Trận đánh kết thúc, đồng đội tìm thấy xe 377 đang bốc cháy giữa ngổn ngang xác xe tăng địch. Bên cạnh thi thể không còn nguyên vẹn của các anh, là những nắm cơm mà các anh chưa kịp ăn giữa hai trận đánh đã bị cháy thành than. Tập thể kíp xe 377 đã lập kỷ lục về hiệu suất chiến đấu cao: 1 xe tăng tiêu diệt 7 xe tăng địch trong một trận đánh.

Với chiến công trên, tập thể xe 377 đã nêu tấm gương sáng về bản lĩnh kiên cường. Chiến công của xe 377 được coi là chuyện huyền thoại của Binh chủng tăng thiết giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xe tăng 377 đã trở thành kỷ vật vô cùng thiêng liêng, tự hào của Đơn vị H73 và gia đình các liệt sĩ.

Ghi nhớ chiến công của các anh, chiếc xe tăng 377 đã trở thành tượng đài đặt ở giữa trung tâm thị trấn Đăk Tô, nơi các anh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Phần hài cốt của các anh đã được quy tập về Nghĩa trang Liệt sỹ huyện Đăk Tô, mảnh đất nơi các anh đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho đất nước; còn nắm cơm đã cháy thành than, cùng các di vật của kíp xe 377 hiện vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng lực lượng tăng thiết giáp. Ngày 1/9/2009 nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho kíp xe tăng 377.

Hơn 30 năm đã qua đi, nhưng hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống ngụy quyền trưa 30/4/1975 mãi là biểu tượng chiến thắng huy hoàng của dân tộc.

III. NHÂN CHỨNG ĐẶC BIỆT

Sau khi giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết, ngày 26/4/1975, toàn bộ lực lượng của ta bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ba ngày sau, đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong – Trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu tiến vào Sài Gòn.

Thần tốc, táo bạo

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về tử thủ ở ngã ba Long Bình, cầu Xa Lộ trên sông Đồng Nai, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn. Nửa đêm 29/4, tiểu đoàn 1 đi đầu đội hình đến phía bắc cầu Xa Lộ. Xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu.

Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu. Sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số còn lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức. Sau khi đánh bại địch giữ cầu Xa Lộ, binh đoàn thọc sâu tức tốc vượt cầu, nhanh chóng vượt qua các tuyến ngăn chặn của địch.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390. Ảnh do Bảo tàng Tăng - Thiết giáp cung cấp.

Cánh cổng sắt Dinh tổng thống Nguỵ dưới vành xích xe 390. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

8h ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến vào nội đô Sài Gòn, kíp xe 390 gồm: Trung úy Vũ Đăng Toàn chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập – lái xe, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên – pháo thủ số 1 và Thiếu úy Lê Văn Phượng – pháo thủ số 2, đi đầu đội hình, vượt qua cầu Thị Nghè, gặp xe tăng địch ra ngăn chặn. Bằng một phát đạn xuyên táo, xe 390 diệt luôn 2 xe M113, số xe địch còn lại hoảng sợ bỏ chạy.

Xe tăng 390 tăng tốc theo đại lộ Hồng thập tự, tiến vào đánh chiếm Dinh tổng thống Nguỵ. Thiếu uý Lê Văn Phượng, nguyên Đại đội phó Đại đội tăng 4 nhớ lại, theo phương án tác chiến, xe tăng 390 đến ngã tư thứ 7 thì rẽ trái là vào đến Dinh tổng thống Nguỵ, nhưng vì cả kíp xe không ai biết Dinh ở đâu, xe đã chạy quá một đoạn, nên phải quay lại, theo đường Công lý (nay là đường Nam kỳ khởi nghĩa).

Thắng nhanh để không đổ thêm máu

Sau khi quay lại, chỉ còn cách Dinh khoảng 30m, kíp xe 390 nhìn thấy xe tăng 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc nghiêng cánh cổng phụ bên trái. Do đột ngột gặp sức cản lớn, nên xe chết máy và kẹt ở đó. Khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ của Dinh, lái xe Nguyễn Văn Tập quay sang nói với chỉ huy xe Vũ Đăng Toàn: “Hay xe của anh Thận bị thương rồi, Thế nào anh Toàn, có cho xe vào dinh không?”.

“Tông thẳng vào”, Trung úy Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh. Lập tức xe 390 tăng ga, lao thẳng và húc hai cánh cổng thép, xích xe chồm lên cánh cổng bên phải, còn cánh bên trái bung bản lề, nghiêng sang một bên.

Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, tông tiếp vào cánh cổng bên trái, cả hai xe tăng 390 và 843 cùng vượt qua cổng, tiến thẳng vào sân, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho lực lượng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong Dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng, hạ cờ chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh tổng thống nguỵ lúc 11h30 ngày 30/4/1975, thời khắc thiêng liêng báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, đánh dấu sự cáo chung của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.

Khi được hỏi, có nghĩ gì khi quyết định húc vào cánh cổng sắt của Dinh? Ông Vũ Đăng Toàn cho biết, lúc đó, chỉ có suy nghĩ duy nhất là phải giành được thắng lợi nhanh nhất, để đồng đội và nhân dân không phải đổ thêm xương máu nữa. Mặc dù, có thể “dính” mìn chống tăng hoặc vật cản nổ của địch bảo vệ cổng Dinh, có thể hy sinh, nhưng kíp xe không có lựa chọn khác.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975. Ảnh do Bảo tàng Tăng - Thiết giáp cung cấp.

Các sĩ quan cao cấp trong phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng trưa 30/4/1975. Ảnh do Bảo tàng Tăng – Thiết giáp cung cấp.

Trung sĩ Nguyễn Văn Tập chia sẻ: “Khi thời cơ đến, chúng tôi chỉ biết đó là độc lập. Đất nước còn chiến tranh thì đau khổ vẫn còn, vậy thì quyết định nhanh chóng để bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng, chấm dứt chiến tranh”. Họ là những người hạnh phúc nhất được chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc.

Đó là giờ phút mà không phải người lính nào cũng có may mắn được trải nghiệm. “Cảm giác sung sướng đến phát khóc khi được chứng kiến khoảnh khắc lịch sử, đích đến cuối cùng sau bao nhiêu năm đồng bào, đồng chí đổ xương máu cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc”, Thiếu úy Lê Văn Phượng bồi hồi nhớ lại.

Năm tháng đã qua đi, nhưng hình ảnh xe tăng 390 húc tung cánh cổng sắt tiến vào Dinh tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975 mãi mãi là in đậm trong lòng những người lính xe tăng và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Hiện nay, xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng lực lượng Tăng – Thiết giáp. Câu chuyện về “nhân chứng” lịch sử đặc biệt này sẽ như một khúc ca truyền thống tiếp lửa cho các thế hệ những người lính Tăng – Thiết giáp.

Với ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn của xe tăng 390 trong Đại thắng mùa Xuân 1975, tháng 8/2011, Hội đồng Khoa học Bộ Quốc phòng đã xét duyệt hồ sơ và thẩm định hiện vật xe tăng 390, nhất trí đề nghị Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch xem xét và trình Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia.

Bộ đội tăng – thiết giáp Việt Nam ra quân

Nhân kỷ niệm 37 năm ngày thống nhất đất nước, chúng tôi xin giới thiệu một số hình ảnh huấn luyện chiến đấu bộ đội tăng – thiết giáp.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, bộ đội tăng – thiết giáp đã tham gia chiến đấu hàng trăm trận, lập nhiều chiến công.

Bộ đội xe tăng – thiết giáp đi từ chiến thắng đầu tiên – Làng Vây (tháng 2/1968) tới thời điểm trưa ngày 30/4/1975, xe tăng 390 đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập – Cơ quan đầu não chế độ Sài Gòn, bắt sống toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, sau 21 năm kháng chiến gian khổ, đất nước đã hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối.

Tiếp nối truyền thống cha anh đi trước, bộ đội tăng thiết giáp hôm nay luôn chăm chỉ rèn luyện, học tập, luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

Dưới đây là một vài hình ảnh hoạt động huấn luyện chiến đấu của bộ đội tăng – thiết giáp (Binh chủng Tăng – Thiết giáp cung cấp):


Hạ mệnh lệnh hành quân chiến đấu trong diễn tập ở Lữ đoàn H01.

Hạ mệnh lệnh hành quân chiến đấu trong diễn tập ở Lữ đoàn H01.

Tổ lái nhanh chóng lên xe chiến đấu.

Tổ lái nhanh chóng lên xe chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Bộ đội xe tăng hành quân chiến đấu.

Xung phong đánh chiếm mục tiêu.

Xung phong đánh chiếm mục tiêu.

Lực lượng xe tăng hiệp đồng đơn vị bộ binh tiến công mục tiêu.

Lực lượng xe tăng hiệp đồng đơn vị bộ binh tiến công mục tiêu.

Đơn vị xe tăng T-54 Huấn luyện bắn đạn thật tại Trung tâm huấn luyện tổng hợp Tăng - Thiết giáp.

Đơn vị xe tăng T-54 Huấn luyện bắn đạn thật tại Trung tâm huấn luyện tổng hợp Tăng – Thiết giáp.

Kiểm tra kỹ thuật xe tăng lội nước K63-85 chuẩn bị cho bài lái bơi tại Phân đội tăng vùng 5 Hải quân.

Kiểm tra kỹ thuật xe tăng lội nước K63-85 chuẩn bị cho bài lái bơi tại Phân đội tăng vùng 5 Hải quân.

K63-85 (Trung Quốc gọi là Type 63) là xe tăng lội nước do Trung Quốc sản xuất viện trợ cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

K63-85 thiết kế dựa trên loại Pt-76 của Liên Xô. Khác với Pt-76, K63-85 trang bị pháo cỡ nòng 85mm (Pt-76 dùng pháo 76,2mm), một súng máy 12,7mm trên nóc tháp pháo.

Xe tăng lội nước K63-85 thuộc lực lượng Hải quân đánh bộ (Vùng 4 Hải quân) diễn tập.

Xe tăng lội nước K63-85 thuộc lực lượng Hải quân đánh bộ (Vùng 4 Hải quân) diễn tập.

Để chiến đấu tốt, phải cần huấn luyện giỏi. Trong ảnh: tổ lái tăng đang thực hiện bài thi trong Hội thao kỹ thuật tăng - thiết giáp.

Để chiến đấu tốt, phải cần huấn luyện giỏi. Trong ảnh: tổ lái tăng đang thực hiện bài thi trong Hội thao kỹ thuật tăng – thiết giáp.

Khi lên xe các chiến sĩ là những pháo thủ, lái xe, nạp đạn giỏi. Khi xe hỏng, các anh là thợ kỹ thuật lành nghề. Trong ảnh: một kíp lái tăng sửa chữa dã chiến.

Khi lên xe các chiến sĩ là những pháo thủ, lái xe, nạp đạn giỏi. Khi xe hỏng, các anh là thợ kỹ thuật lành nghề. Trong ảnh: một kíp lái tăng sửa chữa dã chiến.

Không chỉ huấn luyện bắn tốt, lái giỏi, bộ đội tăng cũng cần thể lực dẻo dai, khỏe mạnh . Trong ảnh: Huấn luyện thể lực cho học viên trường sỹ quan Tăng - Thiết giáp.

Không chỉ huấn luyện bắn tốt, lái giỏi, bộ đội tăng cũng cần thể lực dẻo dai, khỏe mạnh . Trong ảnh: Huấn luyện thể lực cho học viên trường sỹ quan Tăng – Thiết giáp.

Huấn luyện võ thuật cho học viên trường sỹ quan Tăng - Thiết giáp.

Huấn luyện võ thuật cho học viên trường sỹ quan Tăng – Thiết giáp.

Đội ngũ kỹ thuật binh chủng tiến hành công tác đồng bộ xe tăng.

Đội ngũ kỹ thuật binh chủng tiến hành công tác đồng bộ xe tăng.

Các chiến sĩ tiến hành công tác lau chùi trong ngày công tác kỹ thuật (lữ đoàn H01).

Các chiến sĩ tiến hành công tác lau chùi trong ngày công tác kỹ thuật (lữ đoàn H01).

Chuyện “Lấy vũ khí địch đánh địch”

“Lấy vũ khí địch đánh địch” vốn là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, được phát huy trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Tuy nhiên, khác với thời đại trước, để chiếm giữ vũ khí địch tăng cường sức mạnh quân đội, làm rối loạn hàng ngũ đối phương, các cán bộ, chiến sĩ của ta phải vận dụng trí tuệ, khắc phục sự khác biệt về hệ vũ khí. Thậm chí có trường hợp phải đổ máu để giành mẫu nguyên bản, phục vụ cho công tác nghiên cứu.

“Chuyển loại” kỷ lục trong 5 ngày

Một trong những thành tích “lấy vũ khí địch đánh địch” đáng nhớ nhất trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam là chiến công của Phi đội Quyết thắng, sử dụng máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sân Nhất, ngày 28/4/1975.

Theo thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, người từng tham mưu trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất: Sau khi tiếp quản máy bay A-37, ngay lập tức, phi công của ta tập trung “chuyển loại” (học lái loại máy bay mới) trong vỏn vẹn 5 ngày. Đây là quãng thời gian có thể được xếp vào hàng kỷ lục. Vì quá trình “chuyển loại” thông thường đã kéo dài hàng tháng, thế nhưng, đây lại là “chuyển loại” giữa hai hệ máy bay TBCN và XHCN, có nhiều sự khác biệt.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (khi đó là thiếu tá phi công) bước xuống sau chuyến bay thử máy bay A-37 thu hồi được của địch. Ảnh tư liệu

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan (khi đó là thiếu tá phi công) bước xuống sau chuyến bay thử máy bay A-37 thu hồi được của địch. Ảnh tư liệu

Trong thời gian này, các phi công của phi đội Quyết thắng đã chạy đua với thời gian để làm quen với ở hệ thống phanh, hệ đo lường, cách sắp xếp đồng hồ ở buồng lái. Thậm chí, giữa cái nóng hầm hập ở sân bay Đà Nẵng giữa những ngày tháng 4, phi công Hán Văn Quảng và Nguyễn Văn Lục còn chui vào buồng lái để thao tác nút bấm, đồng hồ đến khi thành thạo mới thôi.

Ngoài phi công, các thợ máy của không quân ta cũng phải nhanh chóng nắm bắt cấu tạo máy bay mới thu hồi của địch để sửa chữa, đảm bảo số lượng, khả năng tác chiến của máy bay tham gia phi đội chiến đấu.

Nhờ vậy, ngày 28/4/1975, cuộc tập kích của phi đội Quyết thắng đã phá hủy 24 máy bay địch ở Tân Sơn Nhất, reo rắc sự hoang mang tột độ trong lòng địch. Trong cuộc tấn công, đài đối không của hốt hoảng la hét: “A-37 của không đoàn nào? A-37 của không đoàn nào?”, phi công Từ Đễ đã bình tĩnh đáp trả “A-37 do Mỹ chế tạo đó”, trước khi cắt bom.

Nhớ về trận đánh lịch sử, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan tâm sự: “Phi công của ta ngày ấy quả là những con người thông minh, dũng cảm tuyệt vời. Chỉ có ít ngày huấn luyện mà đã xuất trận với hiệu suất chiến đấu rất cao”.

Đổ máu bảo vệ xe tăng chiến lợi phẩm

Từ năm 1966, thực hiện chủ trương “lấy xe địch đánh địch”, Bộ chỉ huy giao cho Đoàn cơ giới Miền tổ chức một số trận đánh chiếm xe địch làm phương tiện huấn luyện bộ đội, xây dựng đơn vị thiết giáp ở B2.

Ngày 23/3/1966, đại đội C40, gồm 38 đồng chí bất ngờ tấn công vào căn cứ của Trung đoàn Thiết giáp số 1 ngụy ở Gò Đậu, đoạt được 4 xe tăng M41 và 6 xe thiết giáp M113. Thế nhưng, khi đưa xe ra khỏi căn cứ, địch cho gọi máy bay đánh chặn, bắn cháy gần hết số xe ta thu được. Trong đó, chỉ duy nhất chiếc M41. A1 (số 247) thoát được.

Thế nhưng, suốt giai đoạn 1966-1969, địch nhiều lần đổ quân phá căn cứ của ta và truy tìm xe. Nhờ sự chiến đấu và hy sinh của các chiến sĩ của ta cùng với phương pháp ngụy trang và đảm bảo bí mất tốt, chiếc xe đã an toàn, ngay cả trong trường hợp nơi chôn dấu cách địa điểm đổ quân vài trăm mét.

Chiếc xe tăng chiến lợi phẩm trong trận Gò Đậu. Ảnh tư liệu

Chiếc xe tăng chiến lợi phẩm trong trận Gò Đậu. Ảnh tư liệu

Chiếc xe chiến lợi phẩm được sử dụng để huấn luyện cho bộ đội B2. Nhiều cán bộ, chiến sĩ trưởng thành từ đây đã đạt nhiều thành tích xuất sắc trong huấn luyện, chiến đấu.

Tiếp nối chiến công đầu tiên của bộ đội tăng thiết giáp miền đông nam bộ, trong những chiến dịch sau này, khi đã thu hồi được tăng, thiết giáp của Mỹ, ngụy để lại, bộ đội ta đã nhanh chóng làm chủ và khai thác để tấn công địch. Đặc biệt, Đội 33 (một đơn vị chuyên thu gom tăng, thiết giáp khí tài của địch, thành lập dưới quyền Chỉ huy sở Tiền phương cơ giới miền) còn có cả một “bộ sưu tập” nhiều chủng loại xe: M24; M41; M48; M113; M113 phun lửa; xe cẩu… Những chiến xa này đã tham gia nhiều trận đánh lớn, trong đó, có trận đánh tiến về giải phóng Sài Gòn từ hướng Tây Nam.

Tìm kính ngắm dưới mưa đạn

Không được cơ động như các khí tài cơ giới, việc “lấy vũ khí địch đánh địch” của các đơn vị pháo binh hết sức có ý nghĩa. Vì, khai thác được khí tài của địch sẽ giảm bớt gánh nặng cho các đơn vị hậu cần, nhiều khi phải sử dụng sức người để kéo, gùi pháo.

Do đó, tinh thần “lấy vũ khí địch đánh địch” luôn được các chiến sĩ của binh chủng “chân đồng, da sắt” quán triệt. Trong đó, có câu chuyện lần lấy pháo, đạn của địch đánh địch của sư đoàn Sao Vàng, mà mở màn là chiến dịch giải phóng Hoài Ân.

Ngày 18/4/1972, sau khi chiếm được trận địa pháo của địch, một phân đội của tiểu đoàn 17 nhanh chóng tiến hành thu hồi pháo. Thế nhưng, trước khi rút chạy, địch đã đập phá, tháo gỡ các kính ngắm. Không có kính ngắm, người điều khiển pháo như không có mắt. Đồng thời, giặc không để yên cho ta chiếm giữ trận địa. Nhằm vị trí ta vừa chiếm giữ, pháo địch dồn dập trút đạn xuống.

Thế là, vật lộn giữa cơn mưa đạn, chờ những lúc pháo ngớt nổ, phân đội của tiểu đoàn 17 vẫn kiên trì lần mò trong bóng tối tìm kính ngắm, xung quanh trận địa, từ gần ra xa, xuống cả ruộng ngô. May mắn, cuối cùng cũng thu được kính ngắm và một số phụ tùng, đủ ráp đồng bộ một khẩu pháo 105 ly và kéo về căn cứ an toàn. Toàn phân đội, ai cũng mừng rỡ vì từ nay có pháo lớn.

Từ chiến công đầu, chỉ thu được khẩu pháo duy nhất, những chiến dịch sau, phân đội của tiểu đoàn 17, sư đoàn Sao Vàng đã 7 lần thu được của địch gồm nhiều loại, thậm chí cả “cẩm nang các bài bắn pháo” do địch để lại. Đến kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, lượng khí tài thu được đủ để đơn vị trang bị và phát triển thành trung đoàn, với 24 khẩu pháo mặt đất (chiếm 80% số pháo của đơn vị).

Trung Quốc: Quân đội Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á

19/03/2012 4 comments

“Thực lực quân sự Việt Nam đã được nâng lên một cách vững chắc, quân số đông, tác chiến mạnh, sức chiến đấu và sức mạnh tổng hợp đều đứng đầu các nước Đông Nam Á”.

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân đội Nhân dân Việt Nam

1. Thực lực quân sự đứng đầu Đông Nam Á

Tạp chí Ngoại giao của Trung Quốc nhận định như trên và phân tích thêm: lực lượng vũ trang của Việt Nam chủ yếu bao gồm quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, còn có cả cảnh sát biển và công an nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập năm 1944, lúc đầu chỉ có 34 người, gọi là “Đội tuyên truyền giải phóng quân” Việt Nam, trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và giải phóng miền Nam, đến nay quy mô và sức mạnh chiến đấu không ngừng lớn mạnh.

Theo “Sách Trắng Quốc phòng” công bố năm 2009 của Việt Nam, hiện nay lực lượng thường trực của quân đội Việt Nam (bao gồm cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương) có tổng cộng 450 nghìn người, lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.

Bộ đội chủ lực là thành phần cốt cán của quân đội nhân dân Việt Nam , bao gồm lục quân, hải quân, phòng không không quân, bộ đội biên phòng.

Lục quân Việt Nam hiện chia thành 8 Quân khu, một số Quân đoàn, Sư đoàn bộ binh, Lữ đoàn tăng thiết giáp, Lữ đoàn tác chiến đặc chủng, Lữ đoàn pháo binh dã chiến, Sư đoàn công binh, Sư đoàn xây dựng kinh tế.

Tên lửa S-300PMU1 của quân đội Nhân dân Việt Nam (ảnh:QĐND)

Tên lửa S-300PMU1 của quân đội Nhân dân Việt Nam (ảnh:QĐND)

Trang bị vũ khí chủ yếu gồm có 850 xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55, 300 xe tăng hạng nhẹ PT-76, 100 xe trinh sát thiết giáp BRDM-1/2, 300 xe chiến đấu bộ binh BMP-1/2, 1.100 xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152, khoảng 2.300 cỗ pháo kéo xe và một số dàn phóng tên lửa, pháo cao xạ, pháo tự hành, tên lửa chống tăng và tên lửa đất đối không.

Hải quân Việt Nam thành lập năm 1955, hiện biên chế thành 4 vùng hải quân ven biển, trang bị chủ yếu gồm hai tàu ngầm mini mua của Bắc Triều Tiên năm 1977, 6 tàu hộ vệ, 2 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Cheetah”, 37 tàu tuần tra và một số tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ và tàu tiếp tế hậu cần.

Phòng không không quân Việt Nam thành lập năm 1963, được sáp nhập từ Bộ Tư lệnh phòng không và Cục không quân, hiện được biên chế thành một số Sư đoàn phòng không và Sư đoàn không quân, bên dưới có Trung đoàn máy bay tấn công, Trung đoàn máy bay tiêm kích, Trung đoàn máy bay vận tải, Trung đoàn pháo cao xạ, Trung đoàn rađa.

Trang bị chủ yếu gồm có 140 máy bay MiG-21, 7 máy bay SU-27SK, 4 máy bay SU-30MKK, 53 máy bay SU-22, 4 máy bay chống tàu ngầm Be –12, 26 trực thăng chống tăng MiG-24, 10 trực thăng chống tàu ngầm Ka-28 và một số máy bay huấn luyện, tên lửa không đối không, không đối đất, đất đối không.

Hải quân Việt Nam vùng IV luyện tập

Hải quân Việt Nam vùng IV luyện tập

Bộ đội biên phòng Việt Nam thành lập năm 1959, có chức năng cơ bản là thực hiện quản lý biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ biên giới trên bộ, hải đảo, vùng biển và trật tự an ninh ở khu vực cửa khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Ngoài quân đội nhân dân, dân quân tự vệ Việt Nam cũng là bộ phận cấu thành chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng vẫn ở vị trí sản xuất và công tác, thời bình là lực lượng lao động sản xuất chính, thời chiến là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân.
Dân quân tự vệ chủ yếu thuộc các loại hình bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, giao thông, phòng chống hóa học, điều trị y tế và dân quân tự vệ trên biển, trong đó dân quân tự vệ trên biển mới được thành lập từ năm 2009 nhằm đối phó với những đe dọa an ninh trên biển.

Việt Nam còn có lực lượng cảnh sát biển, thành lập năm 1998. Vì thế, Việt Nam hiện nay có ba bộ phận lực lượng vũ trang trên biển là hải quân, cảnh sát biển và dân quân tự vệ biển, cho thấy Việt Nam hết sức coi trọng an ninh trên biển.

2. Chú trọng Biển Đông, đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân không quân

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hiện đại hóa quân đội. Sau sự kiện khủng bố ngày 11/9, nhất là từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao đối với Irắc, Việt Nam đã ý thức được rằng hình thái chiến tranh trong tương lai sẽ có thay đổi to lớn, vũ khí trang bị truyền thống và dạng thức tác chiến truyền thống đã không thể thích hợp với yêu cầu chiến tranh trong tương lai.

Mục tiêu tổng thể trong xây dựng quân đội của Việt Nam là “Cách mạng hóa, chính quy hóa, tinh nhuệ hóa và từng bước hiện đại hóa”.

Chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam

Chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam

Vì thế, Việt Nam đã mở rộng chi phí quốc phòng, từ chỗ chú trọng xây dựng quy mô chuyển sang xây dựng chất lượng quân đội, chú trọng nguyên tắc phát triển phối hợp giữa các quân binh chủng và ưu tiên phát triển hải quân – không quân, đồng thời tiếp tục tăng cường xây dựng lực lượng dự bị như dân quân tự vệ.

Việt Nam bắt đầu thực hiện phương châm chiến lược “thu hẹp lục quân mở rộng hải quân”, coi việc bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên biển là trọng tâm của chiến lược quân sự mới, tăng cường một cách có trọng điểm khu vực ven biển miền Trung Nam Bộ và bố trí binh lực ở các đảo mà Việt Nam đã chốt giữ , làm nổi bật nhiệm vụ xây dựng hải quân và không quân.

Tàu chiến Moliya

Tàu chiến Moliya

Năm 2001, Việt Nam đã cho ra đời “Kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang thế kỷ mới”, đề xuất thay đổi toàn diện vũ khí trang thiết bị của ba quân chủng lục quân, hải quân và không quân, trọng tâm là ưu tiên đảm bảo hiện đại hóa phòng không không quân và hải quân, đồng thời lắp đặt các loại trang thiết bị cảnh báo, trinh sát, chỉ huy, cơ động và đảm bảo cung cấp hậu cần.

“Sách Trắng Quốc phòng” năm 2009 của Việt Nam cũng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng quân đội hiện đại hóa có trang bị vũ khí tiên tiến, trong khi tự nghiên cứu chế tạo, liên hợp sản xuất trang thiết bị, đồng thời mua sắm khối lượng lớn vũ khí trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài, nâng cao tính năng vũ khí trang thiết bị của bản thân, trong đó mua sắm vũ khí trang thiết bị cho hải quân và phòng không không quân đã chiếm tỉ lệ rất lớn.

Hình ảnh Su-30MK2 mới của Việt Nam trên báo Trung Quốc

Hình ảnh Su-30MK2 mới của Việt Nam trên báo Trung Quốc

Cuối năm 2003, Việt Nam đã đặt mua của Nga 4 máy bay chiến đấu SU-30MK đa tính năng. Đồng thời, không quân Việt Nam đã hợp tác với Ixraen và Nga cải tiến hệ thống rađa của máy bay MiG-21, lắp đặt trên máy bay thiết bị trinh sát chụp ảnh ban đêm. Năm 2005, Việt Nam lại đặt mua hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 trang bị cho một số đại đội pháo binh.

Không quân Việt Nam còn mua máy phản lực huấn luyện L-39C/máy bay tấn công hạng nhẹ của Séc, nhập khẩu một bộ phận máy bay luấn luyện KT-1, T-50 của Hàn Quốc và Ba Lan.

Tháng 3/2005, Việt Nam và Ba Lan đã ký Hiệp định mua vũ khí trị giá 150 triệu USD, mua 12 chiếc máy bay tuần tra trên biển M-28, 4 máy bay trực thăng cứu hộ trên biển W-3RM và 8 hệ thống trinh sát trên biển MSC-400 của Ba Lan. Năm 2009, Việt Nam lại ký hiệp định với Nga, mua của Nga 12 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-30MK2.

Su-27 của Không quân Việt Nam

Su-27 của Không quân Việt Nam

Để thích ứng với yêu cầu đặt ra trong tương lai, Hải quân Việt Nam đã có kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, hy vọng đến trước năm 2015 sẽ hoàn thành đổi mới trang thiết bị, để Hải quân Việt Nam trở thành một lực lượng hải quân trên biển hiện đại có đầy đủ các binh chủng, có khả năng tác chiến cơ động và khả năng tấn công hỏa lực tầm xa tương đối mạnh, đến trước năm 2050 sẽ hình thành một lực lượng tác chiến đa chiều độc lập ở biển xa.

Từ năm 1995 đến nay, Hải quân Việt Nam đã lần lượt đặt mua hơn 10 chiếc tàu chiến mang tên lửa có tên “Poisonous spider” của Nga, 12 chiếc tàu tuần tra của Thụy Điển, 2 tàu ngầm mini của Bắc Triều Tiên.

Tàu ngầm Kilo 636

Tàu ngầm Kilo 636

Sau năm 2000, Việt Nam bắt đầu mua tàu mặt nước cỡ lớn của nước ngoài. Năm 2003, Việt Nam đã ký hiệp định trị giá 120 triệu USD với Nga, có kế hoạch mua của Nga 12 chiếc tàu chiến tốc độ cao mang tên lửa có tên “Lightning”.

Việt Nam còn mua các loại tàu tấn công/tuần tra tốc độ cao của Hàn Quốc có các tên “Dolphin”/ “Wildcat”; mua của Ba Lan 4 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Miners”, 1 tàu huấn luyện “Nick Ward”, 8 tàu tuần tra bờ biển “Pilica”, và một tàu tuần tra cỡ lớn “Aubrey Lutz” đã cải tiến.

Năm 2007, Việt Nam lại mua của Nga 2 tàu hộ vệ “Cheetah” và một hệ thống tên lửa chống hạm trên bờ mới nhất để lắp ráp tên lửa hành trình chống hạm có tốc độ siêu âm “Ruby”.

Để khắc phục những bất cập về năng lực tác chiến dưới nước, năm 2009, Việt Nam đã ký một hợp đồng lớn với Nga, mua 6 chiếc tàu tàu ngầm lớp “KILO” chạy bằng động cơ diezen trị giá 1,8 tỉ USD, đồng thời chuẩn bị thành lập lực lượng tàu ngầm.

Việt Nam đang đẩy mạnh giao lưu hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực quân sự

Việt Nam đang đẩy mạnh giao lưu hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực quân sự

Bên cạnh việc mua sắm vũ khí của Nga, Việt Nam cũng tăng cường hợp tác quân sự với nhiều quốc gia trên thế giới nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị nâng tầm của Việt Nam trên trường quốc tế và trong khu vực ít nhất là trong lĩnh cực quân sự.

Hương Trà (theo tạp chí Tri thức thế giới, nghiên cứu biển Đông, tạp chí Bộ ngoại giao Trung Quốc)

Xe tăng Trung Quốc đại bại ở Peru

Quân đội Peru đã quyết định gạt MBT-2000 do Trung Quốc sản xuất để chọn T-90S trang bị cho lực lượng tăng thiết giáp nước này.

MBT-2000 trong thời gian thử nghiệm tại Peru.

MBT-2000 trong thời gian thử nghiệm tại Peru.

Những năm gần đây, Quân đội Peru đã lên kế hoạch thay thế loại xe tăng T-55 bằng xe tăng thế hệ mới cho lực lượng lục quân.

Mọi việc tưởng như đã an bài, năm 2011 Tổng thống Alan Garcia quyết định chọn xe tăng chiến đấu chủ lực MBT-2000 do Trung Quốc thiết kế sản xuất.

Một trong những lý dó chủ yếu để vị tổng thống này chọn MBT-2000 là nhờ vào giá rẻ hơn so với các loại xe tăng T-90S (Nga), Leopard 2A6 (Đức) và T-84 Oplot (Ukraine).

Tuy nhiên, sau một thời gian đánh giá thử nghiệm so sánh, phía Peru phải thừa nhận rằng “T-90S là lựa chọn tốt nhất trang bị cho đơn vị Lục quân Peru bởi nó có thể thích nghi với mọi địa hình ở Peru.”

Quân đội Peru đang tăng cường hiện đại hóa trang bị vũ khí Lục quân, nước này mới đưa ra chương trình mua hai trung đoàn pháo phản lực để thay thế cho loại BM-21 Grad.

Năm 2011, Trung Quốc đã chào hàng hệ thống pháo phản lực WS-120 nhưng đã không nhận được “cái gật đầu” từ giới lãnh đạo Peru.

Môt số nguồn tin cho rằng, Peru chấp nhận mua pháo phản lực do Israel thiết kế. Tuy vậy, cũng có thể Peru chọn đối tác là Nga với thiết kế BM-30 Smerch đầy uy lực.

MBT-2000 là biến thể cải tiến từ xe tăng chiến đấu chủ lực thế hệ thứ ba Type 90-II, ra mắt năm 2007. Đặc điểm cải tiến chủ yếu là trang bị thêm các module giáp ở mặt trước tháp pháo và thay súng máy phòng không 12,7mm ơ vị trí trưởng xe bằng khẩu 14,5mm.

Còn lại, về trang bị vũ khí, MBT-2000 tương tự Type 90-II với pháo nòng trơn cỡ 125mm có khả năng phóng tên lửa chống tăng có điều khiển qua nòng. Pháo kết hợp với thiết bị nạp tự động cho phép đạt tốc độ bắn nhanh 8 phát/phút (lượng đạn dự trữ 39 viên).

MBT-2000 nặng khoảng 48 tấn, toàn thân xe và tháp pháo bọc giáp composite, có thể lắp thêm giáp phản ứng nổ nếu cần. Hai bên tháp pháo thiết kế 6 ống phóng lựu đạn khói. Xe lắp động cơ diesel 1.200 mã lực do Ukraine sản xuất, đạt tốc độ tối đa 65km/h, tầm hoạt động 450km.

Dũng mãnh như tăng – thiết giáp miền Đông

Đội hình tăng – thiết giáp tham gia cuộc diễn tập đến từ Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22

Các vị khách mời tham quan cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng của các đơn vị thuộc Quân đoàn 4, tổ chức tại núi Mây Tào (Đồng Nai) rất thán phục khi chứng kiến những chiếc xe tăng – thiết giáp từ vị trí tập kết theo đội hình chiến thuật ào lên như một cơn lốc. Tiếng động cơ gầm rú vang động cả núi rừng.

Như những con sư tử biển dũng mãnh, những chiếc xe thiết giáp lao xuống sông rẽ sóng cuồn cuộn. Trên đường hành tiến ở một hướng khác, đội hình xe tăng cũng ào lên tấn công, hỏa lực tiêu diệt mục tiêu ngay từ loạt đạn đầu.

Đội hình thiết giáp của Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 22 nhận lệnh xuất kích.

Đội hình thiết giáp của Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 22 nhận lệnh xuất kích.

Đội hình tăng – thiết giáp tham gia cuộc diễn tập đến từ Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22, cơ động chiến đấu, chi viện cho bộ binh tấn công tiêu diệt mục tiêu.

Lực lượng của Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22 được Ban tổ chức diễn tập đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Thượng tá Nguyễn Nam Dương, Trung đoàn trưởng cho biết: “Trong các cuộc diễn tập trước đây, đội hình xe thiết giáp được bố trí vượt sông bằng phà công binh. Sau hơn chục năm cơ động diễn tập theo phương án cũ, tại cuộc diễn tập năm nay, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định cho đội hình thiết giáp thực hành vượt sông.

Đây là một nhiệm vụ quan trọng đối với trung đoàn. Việc bảo đảm yếu tố kỹ thuật cho các phương tiện, khí tài vượt sông phải được chuẩn bị, huấn luyện hết sức chu đáo, tỉ mỉ…”.

Sau cuộc diễn tập, chúng tôi đã về Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22, chứng kiến quy trình huấn luyện và “chăm sóc sức khỏe” cho những chiến mã vượt sông. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Hân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Thiết giáp giới thiệu với chúng tôi kỹ thuật làm kín xe, bảo đảm cho khối sắt hàng chục tấn nổi trên mặt nước.

Đây là quy trình kỹ thuật khó, đòi hỏi các cán bộ, kỹ thuật viên phải tiến hành các bước rất cẩn trọng. Sau khi hoàn tất các khâu xử lý trong kho, xưởng, những chiếc thiết giáp sẽ được “nhúng” vào hồ thử để theo dõi độ ngấm nước.

Cùng với đó là việc bảo đảm kỹ thuật vận hành của động cơ, hệ thống vũ khí, khí tài được trang bị trong mỗi kíp xe. Trước khi tham gia diễn tập, đơn vị đã tổ chức huấn luyện hàng tháng trời tại hồ bơi ở thao trường, như một trận chiến đấu thực sự.

Quản lý số lượng lớn trang bị phương tiện, nhất là xe Tăng – Thiết giáp, những năm qua, Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22 đã triển khai thực hiện tốt Cuộc vận động 50 về “Quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”.

100% đầu xe, trong đó có một số phương tiện hiện đại, đều bảo đảm tính năng kỹ thuật tốt, sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vượt sông trong tình huống chiến đấu hiệp đồng quân, binh chủng trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của miền Đông Nam Bộ vừa qua, đã khẳng định tính hiệu quả trong công tác kỹ thuật và chất lượng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho bộ đội của Trung đoàn Tăng – Thiết giáp 22.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 966 other followers