Trang chủ > Lịch sử > Linebacker-II thất bại ngay khi bắt đầu

Linebacker-II thất bại ngay khi bắt đầu

Sai lầm nối tiếp sai lầm khiến Mỹ phải trả giá đắt ở Việt Nam, cho sự liều lĩnh của phe diều hâu trong Nhà Trắng, dưới thời Tổng thống Nixon.

Trong cuốn hồi ký “Cuộc chiến 11 ngày” của Robert O. Harder, cựu hoa tiêu dẫn đường trên máy bay ném bom B-52 tham gia chiến dịch Linebacker-II, tác giả thừa nhận và chỉ ra những sai lầm trong việc hoạch định chiến lược cũng như sử dụng B-52 trong chiến dịch không kích quy mô lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ 2 này.

Cuốn hồi ký có đoạn: “Sau khi không thể thuyết phục Bắc Việt về bản dự thảo đàm phán hòa bình đầu tháng 10/1972. Tổng thống Richard Nixon đã ra lệnh cho Không quân Mỹ thực hiện cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam nhằm đạt được những lợi thế trên bàn đàm phán”.

“Linebacker-II đã là một sự thất bại ngay khi bắt đầu, nhiều người chúng tôi biết điều đó nhưng buộc phải hành động theo chỉ thị của cấp trên”.

Chỉ thị từ Tổng thống Nixon thực sự là một sự “bất ngờ” lớn đối với Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ SAC.

SAC dường như không đủ thời gian để chuẩn bị các kế hoạch dự phòng phù hợp với mục tiêu của chiến dịch Linebacker-II.

SAC đã áp dụng chiến thuật của các hoạt động ném bom hạng nhẹ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh mà các máy bay B-52 đã thực hiện nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam trong chiến dịch Linebacker-II.

Tồi tệ hơn, trong gần 8 năm hoạt động ném bom dọc theo dãy Trường Sơn trong môi trường tương đối an toàn SAC đã trở nên tự mãn với những gì mình có và xem nhẹ mối đe dọa từ mặt đất.

Các chỉ huy SAC nói với chúng tôi rằng: “B-52 đã được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại nhất để miễn nhiễm với SA-2 và MiG-21 của Bắc Việt”. Nhưng ngay khi bước vào chiến dịch đó thực sự là nỗi kinh hoàng của chúng tôi. Stratofortress tỏ ra rất dễ bị tổn thương bởi tên lửa đất đối không dẫn hướng SAM-2.

SAC đã lập một kế hoạch “dở tệ” cho một chiến dịch quy mô lớn như Linebacker-II.

Tất cả các máy bay B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao của Thái Lan hoặc căn cứ Andersen trên đảo Guam đều khởi hành từ cùng một điểm, cùng một kiểu điều hành bay, đội hình kiểu một khối, cùng một độ cao và khoảng cách giữa các đợt tấn công.

Đại úy Don Craig, phi công lái B-52 xuất phát từ căn cứ không quân Andersen đã chia sẻ: “Chúng tôi biết có những sai sót lớn trong kế hoạch, bắt đầu bằng việc các máy bay ném bom tới từ cùng một địa điểm trên cùng một tuyến đường và nó đi thẳng xuống khu vực “Thud Ridge”(*), giống như con vịt trong trò chơi bắn súng”.

* Thud Ridge là biệt hiệu mà các phi công F-105 của Mỹ thường gọi khu vực Tam Đảo trong các hoạt động áp chế hệ thống phòng không Bắc Việt.

Đại úy Wilton Strickland nhân viên radar dẫn đường trên B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao, Thái Lan đồng tình với quan điểm của đại úy Craig. “Với khoảng cách xa của chuyến bay, hệ thống phòng không Bắc Việt đã có nhiều thời gian để theo dõi và bắn các máy bay trước khi nó tiến vào khu vực mục tiêu. Họ biết rõ tuyến đường, độ cao, khoảng cách cũng như phương pháp tiếp cận của chúng tôi”. Đại úy Strickland nói.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là các nhà hoạch định kế hoạch của SAC bắt buộc các phi công phải thực hiện một động tác chống phá vỡ bằng cách chao cánh về bên phải sau khi ném hết bom. Đây là động tác được thực hiện sau khi ném bom hạt nhân. Động tác này là vô nghĩa và nó làm cho tốc độ của máy bay bị chậm lại và đặt B-52 vào tình thế nguy hiểm từ hệ thống phòng không của Bắc Việt.

Ngay đêm đầu tiên của chiến dịch, 3 B-52 đã bị bắn hạ (trùng với thống kê của Việt Nam), một tổn thất bất ngờ đối với SAC. Họ đã không thể ngờ được khả năng chống cự của hệ thống phòng không Bắc Việt lại mạnh mẽ như vậy.

SAC cũng không thể ngờ được Hà Nội lại có nhiều tên lửa đến vậy, theo phía Mỹ dự đoán, có khoảng 200 quả đã được bắn lên trong ngày đầu tiên.

Ngày thứ 3 của chiến dịch được coi là một “bi kịch” của SAC, 90 lần B-52 đã được huy động, 6 B-52 bị bắn rơi (phía Việt Nam ghi nhận Mỹ mất 7 máy bay trong ngày này). Sau 3 ngày, 9 B-52 đã bị bắn rơi (Việt Nam ghi nhận là 12 chiếc B-52 bị bắn rơi).

Tỷ lệ tổn thất lên đến 7% quá cao so với dự kiến của SAC. Tuy nhiên, Tướng John C. Meyer, Tư lệnh SAC quyết định tăng cường hơn nữa cường độ của các cuộc không kích và người Mỹ phải trả giá.

Đại úy Captain Strickland là người được giao nhiệm vụ vào ngày thứ 6 của chiến dịch đã may mắn quay trở về căn cứ an toàn. Ông đã tỏ ra rất phẫn nộ trong cuộc họp đánh giá sau đó: “Ai là người đã lập kế hoạch cho một chiến thuật ngu ngốc như thế? Đối phương đang sử dụng kế hoạch của chúng ta, cùng với sự chậm chạp trong triển khai và thu hồi đội hình để theo dõi và bắn chúng ta”

Tướng Glenn Sullivan, Tư lệnh Sư đoàn không quân số 17 đóng quân tại U-Tapao, Thái Lan đã có mặt và lắng nghe ý kiến của các phi hành đoàn nhưng việc thay đổi chiến thuật đã không được thực hiện. SAC đã không có đủ thời gian để khảo sát các tuyến bay mới và việc đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Tuyến đường B-52 đánh vào Hà Nội vẫn được giữ như cũ cho đến hết chiến dịch, chỉ có một thay đổi nhỏ là biến thể B-52G được trang bị hệ thống gây nhiễu mới nhưng điều đó cũng không giúp SAC giảm số lượng B-52 bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

Linebacker-II đã kết thúc sau 12 ngày không kích, Việt Nam không hề bị khuất phục. Linebacker-II đã diễn ra với một chiến thuật nghèo nàn và SAC đã phải trả giá đắt khi đánh giá thấp khả năng phòng không của Việt Nam.

Báo Đất Việt

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: