Trang chủ > Đa chiều > “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu

“Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu

"Bên thắng cuộc" của Huy Đức: Nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu

“Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu

Trong bài Bên thắng cuôc – Vì sao tôi viết?, Huy Đức viết:

“Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ”; “Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh, nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách”; “Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc”.

Những sự thật quan trọng liên quan đến vận mệnh của đất nước ai cũng muốn biết, có điều những chuyện con con liên quan đến chính bản thân ta đây còn bị xiên xẹo tùm lum thì những sự thật lớn lao đâu dễ biết được.

Trong triết học, có cái tận mắt ta nhìn thấy cứ tưởng là sự thật nhưng lại không phải, bởi nó là hiện tượng chứ không phải bản chất. Như than chì và kim cương, người không biết cứ tưởng là hai chất khác nhau, nhưng thực chất chúng lại cùng là các bon. Có những chuyện người thật việc thật vẫn không phải là sự thật bởi chúng chỉ là những mẩu của sự thật mà thôi. Trong khi đó với tôi, sự thật cũng vẫn chưa phải là lịch sử, không phải cái sự thật nào cũng là lịch sử, bởi với mênh mông sự thật trong đời sống thì lịch sử nào chứa cho đủ?

Vậy lịch sử là gì?

Có lẽ chỉ sự thật nào có thể trở thành văn hóa, những sự thật chủ chốt, bao quát, có thể nói lên được bản chất của vấn đề, giúp cho hậu thế những bài học bổ ích thì sẽ thành lịch sử. Tất nhiên không chỉ có những bài học về sự thành công mà có cả những bài học về sự thất bại. Vì vậy những từ “minh triết”, “hiền minh” là đúng nhất dùng để chỉ những phẩm chất cần phải có của một nhà viết sử. Người ta cần phải thấu suốt hết mọi lẽ, với tấm lòng thiện đức, thì mới có thể viết được sử.

Còn Huy Đức cũng có tham vọng viết sử thì có cái gì?

Đó là một chú bé sau giải phóng bị lóa mắt bởi: “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe … Những chiếc máy Akai, radio cassettes”. Từ đó thấy: “Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi”.

Tôi khi ấy gần như thuộc lớp bộ đội sau cùng, cũng kịp trực tiếp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ rừng về tôi cũng thấy SG to đẹp, nhưng có lẽ tôi là số rất ít bộ đội không đi lùng mua khung xe đạp, búp bê, radio cassettes, mà cái mong ước lớn nhất của tôi lúc ấy là được về thăm nhà và được vào đại học, chỉ thế thôi!

Huy Đức, đến tận 1983 mới “có một năm huấn luyện ở Sài Gòn… Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh””, để rồi với cách nhìn ấy đã viết nên cuốn sách: “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc”.

Đó thực sự là cách nghĩ từ một cái nhìn thiển cận. Và với cách nhìn ấy, cái nhìn lịch sử qua lỗ đồng xu như thế thì sẽ viết được cái gì?

Trước khi phân tích cụ thể, ta thử xem qua dư luận về cuốn sách của Huy Đức.

Thật kỳ lạ cả phía “ta” lẫn “địch” đều có người chê Huy Đức dữ dội thì có nhóm nhỏ “xuất thân việt cộng” nhưng đang làm thuê cho những ông chủ thuộc “thế giới tự do” thì rất ca ngợi cách nhìn lộn ngược của Huy Đức.

Trong bài ĐỌC “BÊN THẮNG CUỘC” CỦA HUY ĐỨC Posted on 10.12.2012 by nguyentrongtao , ông GS TRẦN HỮU DŨNG, con Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nguyên là bác sĩ riêng của Bác Tôn, một người đang dạy học bên Mỹ, viết:

“Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết… Cuốn sách đầy ắp những thông tin mà tôi chưa từng đọc được trong bất cứ sách báo nào đã xuất bản. Huy Đức là một trong số rất ít (có thể đếm trên ngón một bàn tay!) ký giả Việt Nam hiện nay có khả năng nghiệp vụ cao, dày dặn kinh nghiệm, và nhất là có biệt tài tạo sự tin cẩn ở những người được phỏng vấn về những sự kiện vô cùng “nhạy cảm”, thậm chí “thâm cung bí sử”… “Bên Thắng Cuộc” lột trần nhiều “huyền thoại” về một số lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Trần Hữu Dũng cũng viết: “Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ… chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn”.

Việc Trần Hữu Dũng khen Huy Đức dùng chữ “tuẫn tiết” để ca ngợi dũng khí của mấy người tự sát, vậy phải chăng đó cũng là cách gián tiếp chê gần một triệu người lính chế độ cũ khác không tự sát là hèn nhát? Còn tôi thấy mấy vị tự sát chẳng cần phải uổng mạng như thế nếu các vị biết Nixon đã thể hiện quyết tâm của Mỹ dứt khoát bỏ rơi VNCH khi quát lên với Kissinger rằng (theo baomoi.com): “Tôi không biết liệu lời đe dọa đó có đủ không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ việc chết tiệt gì – hay cắt đầu hắn ta, nếu cần thiết” (I don’t know whether that threat goes far enough or not but I’d do any damn thing that is — or cut off his head if necessary) khi nói về việc TT Thiệu không muốn ký vào Hiệp định Paris. Đó cũng chính là cái lý do khiến tướng Nguyễn Cao Kỳ từng thốt lên: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”; rồi: Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Vậy thì các vị đã tuẫn tiết thì tuẫn tiết vì cái gì? Vì cái gì Huy Đức đã tôn vinh họ? Và vì cái gì Trần Hữu Dũng ca ngợi Huy Đức?

Nguyễn Giang, hiện là Trưởng Ban Việt Ngữ BBC, tra trên mạng thấy: “Name: Nguyen Giang. Born 1972 in Son La, Vietnam. High school and first year of law studies in Hanoi”, nghĩa là cũng là “con Việt cộng” ở Sơn La. Trên bbcvietnamese.com, trong bài Về cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’, Nguyễn Giang viết:

“Các đoạn có giá trị nhất, nhiều tư liệu mới nhất và tổng hợp được cách nhìn của các bên nhất phải kể đến giai đoạn lực lượng cộng sản Nam và Bắc tiến vào Sài Gòn, và thời kỳ quân quản rồi thống nhất hai miền.

… ngòi bút Huy Đức tỏa sáng trong giọng văn âm thầm, cố gắng giữ vẻ bình thản nhưng bên trong sôi sục, thậm chí có chỗ nghẹn đi vì các biến cố đau đớn cho hàng triệu người mà anh chứng kiện cận cảnh, nhất là ở trong tâm thức một người đi bộ đội về và từ Bắc vào sống trong Nam…

Các vụ ‘thâm cung bí sử’ trong chính trường Việt Nam, nhất là giới tướng lĩnh như cái chết của các tướng Nguyễn Chí Thanh thời chiến tranh, rồi những chuyện đột tử của các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện sau này cùng một âm mưu bao vây, hạ thấp tướng Võ Nguyên Giáp được mô tả thật sinh động”.

Trong bài CÓ PHẢI MÁC LẠI LÀM KHỔ DÂN VĂN GIANG? phản bác TS Phạm Ngọc Cương ở Canađa, tôi đã viết: “Từ cái nhìn phi lịch sử, từ chỗ chê bai cuộc sống ở trong nước, ông Cương ca ngợi Canada, nơi ông là một kẻ tha phương cầu thực. Mọi chuyện ông nói đều đúng cả, nhưng đó chỉ là tư duy “phản xạ có điều kiện” của Pavlov, chứ không phải là cái nhìn biện chứng của một tư duy triết học”, thì có lẽ ông Giang, ông Dũng cũng giống như ông Cương thôi, cũng được những “điều kiện” ở Anh, ở Mỹ đã tạo ra những “phản xạ” trong nhận thức, nên các ông đã ca ngợi Huy Đức viết ngược như thế.

Ngẫm lại cái số phận thật tai quái, tôi đây mà cũng lại có lần “hân hạnh” được dùng tiệc cùng với “ông Trưởng ban” Giang nói trên và cả “nhà cách mạng Lê Công Định” nữa tại quán Nga trên đường Tôn Đức Thắng, Q1, TPHCM!

Ngược lại cái tư duy “phản xạ có điều kiện” nói trên, trên haingoaiphiemdam, một chứng nhân được Huy Đức cho vào “trang sử” của mình là Lê Quang Liễn, một Thiếu Tá Quân lực VNCH, đã phản đối Huy Đức:

“Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật, vì lương tâm thì đừng bao giờ gán, chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân, phe nhóm”.

MX Phạm Văn Tiền ĐĐ F Khóa 20 Đà Lạt:

“Kính thưa quý diễn đàn.

Gần đây dư luận xôn xao về một quyển sách của tác giả Huy Đức, người từ chế độ cộng sản viết về tài liệu lịch sử của cuộc chiến vừa qua. Qua quyển sách có tên là ” Bên thắng cuộc”, nhìn toàn diện tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến, nhưng sự thật đó lại là những điều không thật… Những dẫn chứng bịa đặt mặc dầu với những tên khác nhau, nhưng tác giả Huy Đức phải hoàn toàn chịu trách nhiệm những điều không có thật trong quyển sách của mình. Qua quyển sách “Bên thắng cuộc” của tác giả Huy Đức là những viên thuốc đắng có bọc đường”.

Ở đoạn này Huy Đức rất giống Bùi Tín. Bùi Tín từng “chiêu hồi”, cố công “lập công chuộc tội” nhưng vẫn bị chửi rủa lăng nhục, thậm chí có người còn tố cáo Bùi Tín giết người!

Về phía “ta”, trong bài Cóp nhặt ý kiến bình về “Bên thắng cuộc” . Về chuyện Huy Đức “tố cáo” nhà nước đầy đọa binh lính chế độ cũ sau giải phóng, bạn Pham Truong Son – truongsonnd2007@yahoo.com.vn viết:

“Các ông sang bờ bên kia đại dương đã gần 40 năm, mà vẫn còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn, cá nhân ngày đêm kêu gào chống phá, lật đổ. Huống chi chiến tranh vừa kết thúc, quản lý rồi mà có khi các ông vẫn còn làm loạn ấy chứ, để các ông tự do thì không biết thế nào!”

Bạn Hoàng Việt Vũ:

“… Trại cải tạo là chuyện mà Nhà nước cần phải làm. Chủ yếu là để đảm bảo an ninh trật tự trong nước, tránh việc chống phá của các thành phần thuộc chế độ cũ trong hoàn cảnh khi mà nhà nước còn quá nhiều khó khăn, nếu phải chống cả thù trong lẫn giặt ngoài thì thành quả cách mạng sẽ đều bị sụp đổ.

Mặt khác, nếu so sánh giữa trại cải tạo của chế độ và những nhà tù chế độ cũ như nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc, công việc cuốc đất hằng ngày, tăng gia sản xuất, học tập chính trị có thấm gì so với những kìm kẹp, nhận nước, đóng đinh, cưa chân mà chế độ cũ đã gây ra đối với những người cách mạng.

Hãy nhìn xem, những người mà cha mẹ họ ra khỏi tù với hàng trăm vết thương, ra tù với đôi chân bị cưa 7 lần, những người thân tìm thấy xác của con cháu mình trên đầu vẫn còn hàng chục cây đinh dài cả chục cm. Họ mới là người có quyền căm thù, có quyền lên tiếng, nhưng họ vẫn im lặng và đặt lại quá khứ sang một bên, họ không quên đâu, họ vẫn nhớ, nhưng đối với họ tương lai thì quan trọng hơn nhiều cái quá khứ đau đớn ấy.”

Bạn Trần Hạ Long:

“Tôi định không viết nhưng thấy nhiều người than thở thở than theo ông Huy Đức quá nên cầm lòng không được

Này các bác, tôi là dân Bắc Kì đây, gia đình tôi có cả người từng làm làm ở hành chánh quốc gia đấy và từng làm dân biểu nữa, cũng đi học nhưng ở lại không vượt biên, cũng chả sao cả… Tôi kể các bác nghe nhá:

…Ông họ tôi là thiên chúa giáo dân, ông tôi chiến đấu chống Pháp tại Hà Nam, ông tôi là công dân nước Việt chống xâm lược nhưng chưa hề xâm lược nước Pháp nhưng nước Pháp vĩ đại mang ông tôi ra phơi nắng trong khi ông tôi bị thương nặng vì can tội “làm Việt Minh” và ông tôi chết trong đau đớn, nhưng còn hơn một số kẻ cúc cung vì nước Pháp thà làm trâu ngựa hơn làm người tự do…

…Thả tù binh xuống biển, bẻ răng đập hàm… không thủ đoạn đê hèn nào không làm… Nhưng các bác lờ tịt đi… muốn chối tội à. Tôi biết còn nhiều bác từng nhuốm máu nay tỏ ra cao đạo phê phán cộng sản, nhiều bác lính kiểng tỏ ra anh hùng.

Xin các bác nghĩ lại cho một ít”.

Còn với tôi, bộ sách của Huy Đức rất dày, riêng cuốn I đã hơn 800 trang, nên bài này tôi chỉ muốn chỉ cho Huy Đức biết thực chất cái “nền văn minh” của Miền Nam trước giải phóng là như thế nào thôi.

Như trong bài về HUỲNH NGỌC TUẤN, HUỲNH THỤC VY tôi đã viết:

“Về sự tươi đẹp của chế độ VNCH, Huỳnh Ngọc Tuấn cũng như không ít người từng ca ngợi và hay mang ra so sánh với Bắc Việt nghèo khổ, có điều họ không hiểu rằng, đó chỉ là “lợi nhuận” của việc chống cộng mà cư dân ở những vùng đô thị miền Nam được hưởng từ việc đánh đổi bằng máu của dân Bắc bởi “chiến tranh phá hoại” và máu của dân cư vùng nông thôn. Theo “Fire In The Lake” by Frances Fitgerald, Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139, khi viết về Diệm, tác giả cũng viết: “Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thành phố ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương. (For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West)”.

Cụ thể trong Viện trợ nước ngoài trong Chiến tranh Việt Nam trên Wikipedia theo Nguyễn Nhật Hồng Trưởng bộ phận B29:

“Toàn bộ tiền viện trợ và tiền giúp đỡ của quốc tế cho Việt Nam đánh Mỹ đều tập trung về một đầu mối là B29… Từ 1965 đến 1975, B29 đã tiếp nhận Sáu trăm bảy mươi tám triệu bảy trăm ngàn đô la Mỹ (số tròn) (678.700.000 USD), trong đó hơn sáu trăm hai sáu triệu đô la là tiền viện trợ đặc biệt, hơn hai mươi bốn triệu đô la là tiền của các tổ chức và nhân dân quốc tế ủng hộ, gần 21 triệu đô la là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ ở nước ngoài, gần bảy triệu rưỡi đô la là lãi từ tiền dự trữ của chiến trường sau giải phóng…”.

Tài liệu của CIA giải mật của Hoa Kỳ thì đưa ra những con số ước tính qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 7 tỉ USD, trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự).

Còn Viện trợ quân sự Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa:

“Theo nguồn do Việt Nam thống kê thì tổng viện trợ cho VNCH từ 1954 đến 1975 là trên 26 tỷ USD. Theo nguồn của Hoa Kỳ thì tổng viện trợ Quân sự cho VNCH từ 1955 đến 1975 là 16,762 tỉ USD. Lưu ý số vũ khí và viện trợ trên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chiến phí của Mỹ ở Việt Nam. Nó chưa bao gồm số vũ khí và chiến phí do quân đội Mỹ trực tiếp sử dụng trong giai đoạn tham chiến trực tiếp 1964-1973, mà theo thống kê là trên 141 tỷ USD chi phí trực tiếp, tương đương 686 tỷ USD theo thời giá 2008. Mặt khác, nhà kinh tế Steven ước tính tổng chi tiêu cuối cùng của Mỹ cho cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ lên tới 925 tỷ USD; gấp 3,8 lần chi phí của Mỹ trong thế chiến thứ nhất và chỉ đứng sau chi phí của Mỹ cho thế chiến thứ hai”.

Như vậy tổng chi phí của Mỹ cho chiến tranh VN gấp hơn 130 lần mà phía VNDCCH đã nhận được viện trợ. Vì thế cái “nền văn minh” mà Huy Đức thấy qua “Mấy chiếc xe đạp bóng lộn”; “cặp nhẫn vàng chóe”; “Những chiếc máy Akai, radio cassettes”; rồi: “rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc” v.v… đều có nguồn gốc từ “925 tỷ USD” mà Mỹ đã chi cho cuộc chiến ở VN, kèm theo 58000 nhân mạng nữa, để rồi mất trắng trở về.

Theo Vi Anh trong bài Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:

“Tiến sỉ Nguyễn Tiến Hưng đưa ra một vài thí dụ và dẫn chứng của sự kiện lịch sử tiêu biểu nhưng vô cùng đau đớn cho chánh quyến VNCH khi lệ thuộc Mỹ. Về kinh tế nội việc xin Mỹ viện trợ gạo là cả một vấn đế phức tạp, phiền toái mà trăm dâu đổ đầu tằm VNCH phải chịu. Cứ mỗi năm vào 16-5 mùa giáp hạt, thì kho gạo VN hết, từ tổng thống đến chánh phủ phải chạy đôn chạy đáo để cầu viện. Câu viện phải qua 6 bước. Xin Hành Pháp cấp, Quốc Hội chuẩn chi, giải quyết vận chuyễn,. Vận chuyễn theo luật viện trợ Mỹ phải đấu thầu chuyên chở. Ông Chủ tịch Ủy Ban chuẫn chì có công ty hàng hải “ bồ bịch” muốn công ty của mình được thầu. Làm không khéo, đổ bể các nhà thấu khác la lên thì VNCH mang tiếng xấu, mà không làm cho công ty bồ bịch của Ông thì chuẩn chi khó khăn hay bị cắt giảm. Chở gạo từ Louisiana lên San Fran, từ San Fran về VN. Nghiệp đoàn công nhân bốc dở biết Quân Đội ở Miển Trung đang cần gạo, họ hay đình công để làm tiền. Chánh quyền VNCH không thể trả tiền vòi vĩnh mà cũng không thể ngăn cản quyền đình công của nghiệp đoàn, trong khi Quân Đoàn I xếp hàng xe chờ gạo, lính gần hết quân lương. Chánh quyền phải nhờ các thương gia gạo dàn xếp. Đó là chưa nói gạo viện trợ về bán rẻ thiệt hại cho nông dân VN”.

Chính Nguyễn Văn Thiệu còn có những câu nói để đời rất hồn nhiên thừa nhận việc mình làm một ông Tổng thống “bù nhìn” như sau:

– Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng;

– Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!

Không chỉ lệ thuộc về kinh tế mà về chính trị chế độ của Nguyễn Văn Thiệu cũng hoàn toàn bị lệ thuộc. Khi Mỹ nhận ra sai lầm trong cuộc chiến ở VN, như việc “cắt lỗ” trong đầu cơ chứng khoán, chính phủ Mỹ đã “vắt chanh bỏ vỏ” Nguyễn Văn Thiệu không thương tiếc. Trong Nguyễn Văn Thiệu – Wikipedia tiếng Việt:

“trong thư của Tổng thống Nixon gửi ông vào ngày 16 tháng 1 có đoạn: “Tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần tôi sẽ làm đúng như nói trên một mình. Trong trường hợp đó tôi phải giải thích công khai rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả sẽ là sự chấm dứt không tránh khỏi và lập tức viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ – và một sự thay đổi nhân sự trong chính phủ của ông khó mà nói trước”.

Trong bức thư đề ngày 6/10/1972, Nixon còn ngầm đe dọa: “Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968…”.

Henry Kissinger về sau trong hồi ký của mình đã cho rằng: “Nguyễn Văn Thiệu đã điều hành quốc sự theo một kiểu “tàn bạo”, “xấc láo”, “ích kỷ, độc ác” với những “thủ đoạn gần như điên cuồng” khi làm việc với người Mỹ”; Kissinger cũng tiết lộ rằng, khi nói về việc Nguyễn Văn Thiệu ngăn cản Mỹ ký hiệp định Paris, Tổng thống Nixon đã giận dữ thốt lên: “Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi.”

Một “nền văn minh” luôn tùy thuộc vào chế độ chính trị và tiềm lực kinh tế. Vì những lẽ trên đây mà người ta đã cho cuộc sống ở Sài Gòn trước 75 chỉ là “phồn vinh giả tạo”. Mà nền kinh tế ấy cũng lại: “ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường”.

Đó là những thông tin chỉ bấm một phát là ra trên Google, vậy mà Huy Đức đến tận bây giờ còn mù quáng thì thử hỏi còn tham vọng viết lách cái gì?

Còn cuộc sống ở ngoài bắc trước 1975, Huy Đức cần phải hiểu nếu không có chiến tranh, nếu miền Bắc không phải “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tất cả vì Miền nam ruột thịt” thì chắc chắn mức sống 2 miền Nam, Bắc không quá chênh lệch như thế!

Cũng liên quan đến Kissinger, cũng về sự lệ thuộc nước ngoài, Lê Mai trong bài Ba bảo bối của Lê Đức Thọ viết về Lê Đức Thọ, một nhân vật mà Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho “Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ”; nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược” (VietNam.net); còn Huy Đức trong cuốn sách của mình đã cố công bôi đen hình ảnh của ông bằng những tư liệu không chính thống; nhưng thực tế, với Nguyễn Văn Thiệu, ta càng thấy nhục cho người Việt mình trước người Mỹ bao nhiêu thì với Lê Đức Thọ, ta lại càng tự hào bấy nhiêu. Lê Mai đã viết:

“Kissinger viết: “Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán màu xám hoặc ma-rông. Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp. Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng của ông một cách tận tụy và khéo léo”.

Kissinger dường như tin rằng chìa khóa để giải quyết vấn đề VN là ở Mátxcơva và Bắc Kinh.

– Ngài cố vấn qua Bắc Kinh, Mátxcơva, chắc đã được các bạn của ngài thông báo về ý kiến của chúng tôi trong đợt đàm phán này – Kissinger khiêu khích.

– Bạn chúng tôi ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi. Mấy năm qua các ông cứ chạy vay chỗ này chỗ kia, chỉ làm phức tạp thêm vấn đề. Trong một ván cờ, quyết định thắng thua phải là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết vấn đề của chúng tôi – Lê Đức Thọ trả lời.

Khi Kissinger thông báo, Sài Gòn sẽ không ký, Lê Đức Thọ nói với Kissinger: “Năm năm nay không bao giờ ông để tôi tin ông lấy một lời. Ông hứa danh dự rồi chính ông lại dí ngay lời hứa đó xuống chân ông. Ông lật lọng hết mức”.

Kissinger bực lên và đáp:“Ông nói là lời của tôi vô giá trị, thế thì ngồi đây đàm phán làm gì. Tôi phải tính đến chuyện lần sau để người khác đàm phán với ông, tôi với ông không đàm phán với nhau nữa”.

Kể cũng lạ, đi đàm phán với đối phương là giáo sư Đại học Harvard lừng danh mà Lê Đức Thọ nhiều khi ứng xử như với cán bộ của mình, nghĩa là tiếng oang oang, chỉ mặt lên tay, thậm chí còn nói thẳng ra rằng Kissinger là kẻ nói láo!

Một hôm, trước bữa nghỉ ăn trưa, Kissinger nói với Lê Đức Thọ:

– Hiện giờ ông cố vấn đàm phán với tôi thì ông nói như mắng tôi; sau này kết thúc đàm phán, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình rồi, thì ông mắng ai?”.

Tóm lại, Bên Thắng cuộc là cuốn sách được Huy Đức viết rất kỳ công, chi li, nhưng những cái bình thường thì đều đã được đăng tải trên sách báo chính thống, còn những cái khác thường thì cũng đã đăng tải trên mạng. Riêng tôi thì còn biết hơn nhiều lần kể cả số lượng cũng như độ “ghê gớm” của những tư liệu, quan trọng là phải biết có cần viết ra hay không mà thôi. Chỉ có điều đặc biệt là Đức khoe do công việc nên đã được gặp và phỏng vấn nhiều nhà lãnh đạo và những cán bộ cao cấp, đảm bảo tính chính xác của thông tin, bởi đều là những chuyện người thật việc thật. Nhưng như tôi đã viết, dù đúng là chuyện người thật việc thật, nhưng nếu chỉ là cái nhìn chủ quan, phiến diện, cục bộ thì chỉ là những mẩu sự thật chứ chưa phải là sự thật. Mà Lịch sử lại cần phải được viết bởi sự minh triết để có thể bao quát thấu suốt, viết ra được bản chất sâu xa nhất của các sự kiện, để đời sau rút ra được những bài học bổ ích. Trong khi đó Bên thắng cuộc lại chỉ xoáy vào cái xấu, cái yếu kém, lại được nhìn nhận bằng một cái tâm tối trí thấp, nên cái mà Huy Đức viết ra không phải là lịch sử với ý nghĩa cao quý nhất của nó mà chỉ là những ghi chép sai lạc. Theo tôi, đây là cuốn sách rất nguy hiểm bởi cái vẻ khách quan, và thái độ điềm tĩnh khi liệt kê chi li các vụ việc; người có thành kiến, người ít hiểu biết và nhất là lớp trẻ rất dễ bị dẫn dắt để tin đó là sự thật!

Với những Chỉ thị về việc “Nói và viết những vấn đề liên quan đến lịch sử và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”, chắc chắn Huy Đức đã vi phạm. Phải chăng Huy Đức không sợ vì đã noi theo Herostratos (‘Ηρόστρατος), một thanh niên thời cổ đại, hy vọng sẽ trở nên nổi tiếng đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis? Chắc không phải vậy, mà Huy Đức chỉ noi theo một số người ở chính nước ta đã nổi danh bằng cách nói ngược. Điển hình như bà Dương Thu Hương mà Đức đã coi như thần tượng từng nói là đã khóc như cha chết trong ngày giải phóng vì thấy đội quân chiến thắng của mình là đội quân man rợ. Có điều bà này cũng xạo, cũng là kẻ như các cụ nói là lá mặt lá trái, cơ hội, vì thực tế, ngày mới giải phóng bà ta không “khóc” mà đã viết truyện “Loài hoa biến sắc” cho “nền văn minh” của SG, cái “nền văn minh” đã làm lóa mắt Đức đó, chỉ là “Một lớp giấy trên chiếc rọ làm hình nhân bị xé rách. Một lớp váng dầu ngũ sắc bị khuấy tan trên mặt nước tù” mà thôi!

Cuốn Bên thắng cuộc còn rất nhiều vấn đề, nếu còn hứng viết, tôi sẽ viết tiếp.

TPHCM

24-12-2012

ĐÔNG LA

Advertisements
  1. hungdungsangtrongrua
    26/12/2012 lúc 8:17 Sáng

    Dù có nói gì đi nữa thì Bên Thắng Cuộc vẫn được người dân hưởng ứng và bán đắc như tôm tươi, tại sao vậy đông la ?

    • Su That Mat Long
      29/12/2012 lúc 8:55 Chiều

      Dễ hiểu thôi, vì dân bây giờ họ đã hiểu ra đâu là sự thật, đâu là tương lai của họ

  2. 30/12/2012 lúc 2:38 Sáng

    Góp ý với Đông La qua bài điểm sách “Bên Thắng Cuộc”: Lịch sử nhìn qua lỗ đồng xu

    1. Sự thật & Lịch sử: Đông La định nghĩa sự thật để chê bai cách Huy Đức viết sử – trích dẫn từ sách báo cộng sản, từ miệng các nhà lãnh đạo, tướng tá và các phu nhân Việt cộng… – nhưng ngay trong sách lịch sử do Đảng Cộng Sản xuất bản, người đọc thấy đa phần là kể chuyện xạo, thậm chí có cả những anh hùng tưởng tượng. Viết như vậy thì có sử gia cộng sản nào là “hiền minh, thấu suốt hết mọi lẽ và có tấm lòng thiện đức?”
    2. Bản chất & hiện tượng: Bất cứ người Việt bình thường nào, khi nhìn hình ảnh một miền Nam sang giàu so với một hình ảnh miền Bắc bần hàn, họ sẽ nghĩ gì? Họ nghĩ chủ nghĩa cộng sản đã mang đến đại họa cho miền Bắc và giờ đây cho cả dân tộc Việt Nam…
    3. “Tuẩn tiết”: Đông La viết “Việc Trần Hữu Dũng khen Huy Đức dùng chữ “tuẫn tiết” để ca ngợi dũng khí của mấy người tự sát, vậy phải chăng đó cũng là cách gián tiếp chê gần một triệu người lính chế độ cũ khác không tự sát là hèn nhát?” Đây là lối lý luận của một người không biết luận lý. Không nói dông dài mà chỉ muốn đặt câu hỏi với Đông La: “Giả sử ông là cấp chỉ huy quân đội trách nhiệm bảo vệ vùng lãnh thổ biên giới phía Bắc đang bị Trung cộng tấn công; bỗng nhiên được lệnh ông Tổng Bí Thư Đảng và Quân ủy Trung ương bảo buông súng đầu hàng thì ông phản ứng ra sao? Tôi cho rằng ông chỉ có một trong hai lựa chọn:
    – Một, là một quân nhân, ông phải tuân lệnh thượng cấp theo tinh thần “thi hành trước, khiếu nại sau”. Nếu ông buông súng, không ai nói ông hèn nhát mà còn được tiếng biết tuân giữ kỷ luật quân đội.
    – Hai, là một cấp chỉ huy biết tự trọng, ông thấy mệnh lệnh ban ra không thể tuân hành thì ông quyết định thế nào? Hành động tự bắn cho mình chết vì không bảo vệ được Tổ quốc như mình đã tuyên thệ thì được gọi là gì? Ông cho rằng chết như vậy là uổng mạng?
    Và với tâm thức thấp hèn đó, Ông phát biểu: “Còn tôi thấy mấy vị tự sát chẳng cần phải uổng mạng như thế nếu các vị biết Nixon đã thể hiện quyết tâm của Mỹ dứt khoát bỏ rơi VNCH khi quát lên với Kissinger rằng (theo baomoi.com): “Tôi không biết liệu lời đe dọa đó có đủ không, nhưng tôi sẽ làm bất cứ việc chết tiệt gì – hay cắt đầu hắn ta, nếu cần thiết”khi nói về việc TT Thiệu không muốn ký vào Hiệp định Paris.” Chẳng lẽ ông không hiểu đoạn này nói lên tư cách lãnh đạo của Tổng Thống Thiệu khi mà liền theo đó ông trích lời tướng Nguyễn Cao Kỳ: “Đó cũng chính là cái lý do khiến tướng Nguyễn Cao Kỳ từng thốt lên: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê…”
    Nếu thực sự Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là bù nhìn của Mỹ thì chắc chắn là ông không có những hành động đã khiến một vị Tổng Thống của một nước văn minh hùng mạnh nhất thế giới phải đe dọa “cắt đầu” ông ta! Còn tướng Nguyễn Cao Kỳ là ai lúc đó lại thốt lên câu nói “bừa bãi” như vậy? Ông nổi tiếng là một vị tướng trẻ ăn nói bốc đồng, mà lúc đó lại mang chức Phó tổng thống ngồi chơi xơi nước… Sau 30/4/75, ông càng lộ rõ bộ mặt thật nên có gì phải thắc mắc với câu nói mang giọng điệu cs đó. Nhưng cho dù ông nói dùm CS, vẫn khá hơn là lời phát biểu ngu ngơ của người đại diện nước VNCS: “Cuba thức thì Việt Nam ngủ…, Cuba ngủ thì Việt Nam thức…!” Lại càng khá hơn câu phát biểu hùng hồn của chính người lãnh đạo Đảng Việt Cộng: “Ta đánh đây là đánh cho Liên Sô-Trung Quốc”.
    4. Đông La còn đưa ra những trích dẫn từ báo chí CS để bào chữa cho việc phải nhốt “ngụy quân ngụy quyền” hàng chục năm tù. Ông phớt lờ các bài viết chê trách Việt cộng đã không biết cư xử bằng tình huynh đệ như khi nội chiến Mỹ chấm dứt và phớt lờ luôn việc Đông Tây nước Đức thống nhất không đổ máu và khôn ngoan từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chọn ngay tư bản.
    Đông La còn đem chuyện Kissinger thượng lượng với các bên để rút quân Mỹ như là một chiến thắng của phe Cộng nhưng ông bỏ qua chuyện Liên Sô sụp đổ tan tành và chuyện Phạm Văn Đồng ký công hàm nhượng đảo nhượng biển để đổi lấy súng đạn tấn công miền Nam. Ông cũng làm ngơ việc nhượng đất biên giới để đổi lấy 16 chữ vàng!
    5. Cuối cùng, Đông La cho thấy ông không phân biệt được thế nào là cảm xúc chân thật trước sự việc hiển hiện và cảm xúc giả tạo do trí tưởng tượng của nhà văn khi bỗng nhiên ông bẻ ngoặc sang chửi bà Dương Thu Hương đã dám nói quân đội CS là đội quân man rợ. Thật ra bà nói chỉ đúng thời điểm đó. Còn ngày nay cả chính quyền Việt Cộng đang bị tố cáo là rất hèn với giặc và rất man rợ với dân mình.
    Tội nghiệp cho Huy Đức, muốn làm cây bút có lương tri cũng quá khó với đồng bọn. Nói xa hơn, nếu Việt cộng còn những người mang tâm thức mê muội như Đông La thì đừng mong có một cuộc hòa hợp hòa giải…

  3. Thanh Hoang
    06/02/2013 lúc 12:25 Chiều

    gửi Vuthat:
    thứ 1/ tác giả viết bài trên không chỉ lấy dẫn chứng từ các báo CS mà có cả sách báo của Mỹ nếu bạn chịu mở rộng đầu óc để tìm đọc những tài liệu mật mà Mỹ mới công bố về chiến tranh VN bạn sẽ hiểu, chính phủ Mỹ coi chế độ VNCH là một chế độ do Mỹ dựng lên không hơn không kém.

    thứ 2/ miền Nam giàu có ? Bạn đặt có đặt câu hỏi là tiền ở đâu ra không khi Mỹ viện trợ 1 khoảng tiền khổng lồ như thế. Và ý bạn nói là toàn bộ miền Nam đều giàu, “Sài Gòn hòn ngọc viễn đông” ?, hay là chỉ những kẻ làm lớn trong QĐ và CQ Sài Gòn mới là giàu thật sự, hãy nhìn vào những tầng lớp nhân dân lao động kìa, nếu SG giàu có như thế thì đâu phải hàng trăm cô gái là làm gái điếm phục vụ cho lính Mỹ và còn hàng trăm hàng nghìn dẫn chứng nữa không chỉ của chính quyền CS VN mà là của chính những phóng viên phương tây có mặt ở SG lúc bấy giờ.
    thứ 3/ Đảng và nhà nước không bao giờ ra lệnh cho quân dân hạ vũ khí đầu hàng TQ cả và chả có chứng cứ hay bằng chứng đáng thuyết phục nào được đưa ra để chứng mình điều đó nên đừng đưa điều hoàn toàn không có thật và có thể nói là bịa đặt ra để giả sử giải quyết 1 tính huống trong thực tế.
    Còn nói về ông Thiệu, ông ta nói rằng sẽ chiến đấu chống CS đến cùng vậy lúc giải phóng miền Nam 30/4 ông ta ở đâu, câu trả lời là ông ta đã chạy khỏi VN và bay ra nước ngoài cùng 500 triệu đôla và 6 tấn vàng. Và nói về tư cách lãnh đạo của ông Thiệu :”Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng;- Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!” có phải đây là tư cách lãnh đạo của 1 chính quyền, vậy câu hỏi là nếu Mỹ không viện trợ là ông ta không làm nữa vậy đó là tư cách lãnh đạo hay là 1 kẻ làm thuê làm mướn được Mỹ trả tiền? Nếu ông ta có tư cách lãnh đạo thì tại sao Nixon còn ngầm đe dọa: “Tôi yêu cầu ông cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968…” ??? Và còn nữa nếu nói VN:“Ta đánh đây là đánh cho Liên Sô-Trung Quốc”, vậy xin hỏi là bạn là có bao giờ Liên Xô và TQ thay đổi được lập trường của VN khi Mỹ thỏa thuận với Liên Xô và TQ nhằm gây sức ép lên HN không? Câu trả lời là không, không bao giờ khác hẳn với chính quyền của VCH luôn luôn phục thuộc vào cố vấn Mỹ và QĐ Mỹ, ngay cả việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không chấp nhận việc Cuba, TQ và một số nước khác cử quân tham chiến giúp chống Mỹ các cố vấn LX và TQ chủ yếu giúp VN trong chiến thuật hoặc một số phi công LX Triều Tiên trực tiếp tham chiến nhưng số lượng quân tham chiến chủ yếu vẫn là người VN.

    Thứ 4/ Bạn nói CSVN đã không cư xử theo tình huynh đệ như khi nội chiến Mỹ kết thúc?? Vậy như thế nào là tình huynh đệ ở đây vậy? Trước thời điểm giải phóng có một số báo và đài nước ngoài cho rằng sẽ có một cuộc tắm máu ở SG nhưng cuối cùng điều họ thấy là gì ?? Họ hoàn toàn ngỡ ngàng khi mà không có một cuộc tắm máu nào xảy ra cả, hãy đi lại thời điểm vào năm 1959 khi mà Diệm lên cầm quyền ban hành đạo luật 10/59 xem thẳng tay tàn sát dùng cả máy chém với người vô tội không phải Cộng Sản Việt Minh thà giết nhầm còn hơn bỏ sót vậy thử hỏi lúc đó Cách mạng đã quá nhân đạo với những người cầm quyền của VNCH .
    Còn việc nhượng đất đổi lấy 16 chữ vàng ??? Nói bằng mồm thì ai mà chả nói được báo chí Mỹ không nói, phương Tây cũng không có 1 đề cập gì vậy sao nói là nhượng đất lấy 16 chữ vàng? Chỉ có những kẻ vô lương tâm tự nhận là đồng minh Mỹ rồi để QĐ Mỹ thảm sát đồng bào như ở vụ Mỹ Lai hay là rải chất độc màu da cam xuống chính mảnh đất quên hương mình để đồng bào hàng thế hệ phải sống chịu đựng, bọn bán nước ấy cứ tưởng Mỹ là đồng minh nhưng nào ngờ chính vị đồng minh ấy đã khoanh tay làm ngơ cho TQ chiếm HS trong khi hạm đội 7 của Mỹ lúc đó đang năm quyền kiểm soát vùng biển đó, hay là chính quyền nào đã để cho Phillipin chiếm một số lớn đảo ở HS?

    thứ 5/ Vâng bạn nói QĐ CS man rợ vậy man rợ chỗ nào. Còn khi nói về tội ác của QĐ Mỹ và chính quyền SG thì trên thế giới có cả trăm bài báo hàng chục ngàn tài liệu ( trong đó đa số là Mỹ) nói, vâng nếu nói CS man rợ vậy họ có thảm sát dân mình bằng những đạo luật như 10/59 không, họ có cưa sống chân đối phương, đầy ra chuồng cọp như ở Côn Đảo không? và con vô số vô số những việc rợn người khác mà có lẽ kể cũng không hết. Còn nếu nói về việc giam giữ tù binh của QĐ VN thì hãy hỏi những cựu tù nhân Mỹ xem, họ được đối xử như thế nào. Trong khi miền Bắc còn khó khăn nhưng những xuất ăn của họ còn có giá trị cao hơn cả những người trong QĐ VN ngày ấy ?? Và nếu man rợ vậy sao vẫn có những người Pháp người Mỹ ủng hộ VN trong cuộc chiến chống Mỹ. Nếu CSVN man rợ như thế vậy khác nào Mỹ là anh hùng cuộc chiến của Mỹ tại VN là chính nghĩa ? Nếu đúng là như vậy tại sao nhân dân Mỹ lại xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút về nước và trong các cuộc biểu tình ấy người ta còn ủng hộ và cầm cờ của VNDCCH và cờ của Mặt trận GPMNVN reo vang ? Và nếu man rợ như vậy tại sao Đảng lại được nhân dân ủng hộ hết mình ?
    Còn việc rất hèn với giặc và rất man rợ với dân mình. Cho hỏi hèn với ai vậy, ngay cả Mỹ, Pháp kẻ thù của VN của chưa từng dám nói VN hèn cả vậy bạn là gì mà dám nói VN hèn với giặc còn man rợ với dân là man rợ ở chỗ nào ? QĐ NDVN đi giúp dân trong lúc lụt ở HN thì lại có những kẻ ở nước ngoài tuyên truyền là QĐ đảo chính, trí tưởng tượng và bịa đặt của những người này thật đáng khâm phục.
    Còn ông GS TRẦN HỮU DŨNG, con Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nguyên là bác sĩ riêng của Bác Tôn, một người đang dạy học bên Mỹ, viết:

    “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết… Cuốn sách đầy ắp những thông tin mà tôi chưa từng đọc được trong bất cứ sách báo nào đã xuất bản.” Buồn cười ở chỗ là ông này khẳng định đây là cuốn sách hay nhất mà ông từng được biết trong khi những thông tin ông trong cuốn sách ông này lại chưa từng biết vậy cơ sở nào ông ta cho là hay vậy, nhiều người đọc có lẽ sẽ cực kỳ buồn cười trước bình luận của ông “Giáo sư” này.

  1. 16/01/2013 lúc 11:30 Sáng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: