Lưu trữ

Posts Tagged ‘Bác Hồ’

Bác Hồ với thương binh liệt sĩ

Bác Hồ viếng Nghĩa trang Liệt sĩ

Bác Hồ viếng Nghĩa trang Liệt sĩ

Sinh thời, Bác Hồ luôn bày tỏ sự kính trọng đối với các liệt sĩ, thương binh. Ngay khi nước nhà vừa giành được độc lập và đang trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà”. Ngày 27.7.1947, Báo “Vệ quốc quân” số 11 đăng bức thư của Bác, trong đó có đoạn: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay đã một số thành ra thương binh”.

Xem chi tiết…

Advertisements

Việt Nam: “Những ánh mắt không hận thù”

Có một Việt Nam vốn dĩ là điểm đến của hòa bình, có một Việt Nam giản dị, nhỏ bé mà kiên cường, vĩ đại như hiện thân của Hồ Chủ tịch. Và có một Việt Nam đang dần biến đổi từng ngày trong lòng bạn bè quốc tế…

“Những ánh mắt không hận thù”

Đó là những sẻ chia như… rút ruột được viết trong hồi ký “Một mình đến Việt Nam” của nữ diễn viên, nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Mỹ nổi tiếng Jane Fonda khi nói về đất nước hình chữ S bé nhỏ ở nam bán cầu, cách Tổ quốc của bà tới nửa vòng trái đất.

Jane Fonda tại Hà Nội

Jane Fonda tại Hà Nội

Jane Fonda còn được biết đến với cái tên Jane Hà Nội, sinh ngày 21/12/1937. Bà là một trong những nữ diễn viên Mỹ tiên phong trong phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam do chính quyền Mỹ phát động và từng có mặt tại Hà Nội để bày tỏ sự phản chiến trong giai đoạn không quân Hoa Kỳ mở chiến dịch ném bom dữ dội vào thành phố. Trong những ngày tháng Hà Nội chìm trong khói lửa chiến tranh, Jane Fonda đã một mình đến Việt Nam và lưu trú tại khách sạn Thống Nhất, nay là khách sạn Sofitel Lengend Metropole Hà Nội. Cho đến nay, bà vẫn được xem là một trong những “người bạn tốt” của nhân dân Việt Nam.

Trong những mảng hồi ức đầy xúc động về chuyến đi Việt Nam của mình, Jane viết: “Chẳng bao lâu máy bay đã vào vùng trời Việt Nam. Tôi bắt đầu hình dung ra đất nước này giống hình ảnh một phụ nữ vươn cao đầu, chiếc bụng mang bầu của người phụ nữ này vươn ra phần biển, trông cô bé nhỏ và mong manh đến nỗi bất kỳ một siêu quyền lực nào cũng cảm thấy chắc chắn là sẽ chiếm giữ được cô chỉ trong thoáng chốc. Đất nước này nằm trên một mảnh đất thật mảnh dẻ, mảnh dẻ như chính những con người đang cư ngụ trên đó (…) Chuyến xe dài một giờ từ sân bay về Hà Nội là một chấn động lớn. Tôi chờ đợi nhìn thấy một sự tuyệt vọng. Thay vào đó, tôi thấy người, rất nhiều người, bận rộn với công việc của họ, mặc dù vừa mới cách đây một tiếng thành phố bị thả bom…”.

Bà nhớ lại: “Mọi người dân đều đội nón lá, mặc áo trắng và quần thâm theo kiểu truyền thống của nông dân Việt Nam… Đây đó tôi nhìn thấy những đống đổ nát, nhà mất nóc và những hố bom… Ngồi trong xe, tôi không thể cất lời. Cảm xúc cuốn tôi đi quá mạnh mẽ – buồn đau và tội lỗi về những điều mà chính phủ của tôi đang làm, khâm phục cách người dân ở đây tiếp tục cuộc sống của họ và không tin nổi rằng, đây không phải là giấc mơ, tôi đang thật sự ở đây, một mình.

Khoảng giữa đêm tôi bật dậy giữa giấc ngủ sâu vì tiếng còi báo động xé tan không trung. Một người phục vụ xuất hiện trước cửa phòng khách sạn mang theo cho tôi một chiếc nón bảo hộ. Cô ấy hướng dẫn tôi xuống hầm trú bom phía sau khách sạn. Trên đường xuống cầu thang ra sân sau, tôi nhìn thấy nhân viên khách sạn bình tĩnh làm việc của mình…

Và có lẽ xúc động nhất, đáng ghi nhớ nhất vẫn là những lời này: “Chúng tôi lái xe xuyên thành phố đến Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô để tôi khám chân… Phiên dịch trong ngày của tôi là Chi. Cô nói với các bác sĩ tôi là người Mỹ và câu giới thiệu này gây xôn xao xung quanh. Tôi tìm một biểu hiện hằn thù trong mắt những người tôi thấy. Nhưng tuyệt nhiên không có gì. Những ánh – mắt – không – hận – thù ấy ám ảnh tôi suốt nhiều năm sau khi cuộc chiến chấm dứt…”.

Cho đến bây giờ, với nhiều người Mỹ nói riêng và du khách nước ngoài đến Việt Nam nói chung, Hà Nội vẫn là một điểm đến an toàn, “thành phố vì hòa bình” như bao đời vẫn thế. Chỉ có điều, Jane Fonda dường như đã nhận ra điều ấy sớm hơn, cảm nhận được nhiều hơn qua những gì mắt thấy tai nghe. Đáng nói hơn, Jane đã thổi lòng cảm mến Việt Nam và những rung động trái tim mình vào cuộc đấu tranh cho hòa bình, tự do, phản đối cuộc chiến tạo ra bởi chính chính phủ quê hương bà.

“Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ!”

Những sáng tác về Hồ Chủ tịch viết bởi người Việt thậm chí nhiều không kể siết! Thế nhưng, giữa muôn vàn những tác phẩm đầy sắc màu ấy, cái tên Ewan MacColl và bản ballad trữ tình mà nhẹ nhàng vui tươi mang tên Hồ Chí Minh của ông nổi lên như một đóa hoa vừa lạ lẫm, vừa đẹp đẽ lại vô cùng đặc biệt.

Vào đêm nghe tin Pháp đã thất bại ở Điện Biên Phủ (7/5/1954), nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl đã nói với những người bạn của mình: “…Tại sao chiến thắng đặc biệt có ý nghĩa này lại xảy ra ở Việt Nam mà không phải ở một mảnh đất thuộc địa nào khác? Gần đây, tôi đã được đọc một cuốn sách quý, gồm nhiều bài viết của một số giáo sư sử học phương Đông và Pháp, Italia… ca ngợi một nhân vật vĩ đại của thế kỷ XX. Đó là cụ Hồ Chí Minh, nhà lãnh tụ vừa dẫn dắt nhân dân Việt Nam làm nên chiến thắng kiệt xuất Điện Biên Phủ”. Cảm hứng để Ewan MacColl viết nên một sáng tác để đời dành tặng cho vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam bắt đầu như thế. Ông lý giải rằng, nhịp điệu bài hát chính là làn điệu dân ca cổ Saxon. “The ballad of Ho Chi Minh” được xem là món quà tràn đầy tình cảm của người dân nước Anh dành cho Hồ Chủ tịch. Bài hát nhanh chóng được lưu truyền khắp Việt Nam, Pháp và các tầng lớp phản chiến khác, ngày càng được dịch ra nhiều thứ tiếng và lan truyền khắp thế giới.

Trong đêm khai mạc “Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng chiến tranh tại La Habana, Cuba năm 1967”, Ewan MacColl đã biểu diễn bài hát này cũng nữ nghệ sĩ Peggy Seeger, người bạn đời của ông và đã nhận được những tràng vỗ tay tán thưởng đề nghị biểu diễn lại. Và sau khi Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng (1967) kết thúc, vợ chồng Ewan MacColl đã trao tặng bản nhạc trên và ngoài bìa có ghi mấy câu thơ:

Bản nhạc “The ballad of Ho Chi Minh” và nhạc sĩ Ewan MacColl

Bản nhạc “The ballad of Ho Chi Minh” và nhạc sĩ Ewan MacColl

“Trên đời có những vật không thể thay đổi

Có những con chim không khuất phục bao giờ

Có những tên người sống mãi với thời gian

Hồ Chí Minh”.

Với một nhạc sĩ như Ewan, Việt Nam trong ông có lẽ là một hiện thân cụ thể, luôn gần gũi, giản dị và hào hùng như chính người con kiệt xuất sinh ra từ mảnh đất này và được gọi tên trong khúc ca của ông:

“Miền biển Đông, xa tắp nơi chân trời

Ở nơi xa đó, người dân đói nghèo

Từ đau thương người đi khắp năm châu

Lòng tin mặt trời chân lý sáng soi

Rọi chiếu sáng dân mình

Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!”…

Những cảm nhận và tình cảm đáng trân trọng ấy luôn khắc sâu trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Hôm nay, vẫn có những người nghệ sĩ nước ngoài mải miết đi tìm cho mình một chút “tâm hồn” Việt trong sáng tác. Từng thước phim, từng mảng màu vẽ, từng dòng thơ, câu chữ của họ đều chứa đựng những khát khao khám phá đất nước và con người Việt Nam. Mới đây nhất, nhà điêu khắc người Pháp Lolo Zazar cho ra mắt triển lãm nghệ thuật thị giác với tên gọi “Lời của tường” tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội). Các tác phẩm lấy cảm hứng từ những thay đổi liên tục và nhanh chóng của Hà Nội thông qua những bức tường, dưới góc nhìn của một người nước ngoài đã sinh sống tại Việt Nam suốt 1.800 ngày qua.

Và, trong lòng những người bạn quốc tế từ xưa đến nay, vẫn luôn có một Việt Nam… như thế!

Theo Website Nguyễn Tấn Dũng

43 năm ngày Bác đi xa

Cứ mỗi độ tháng 9 về, chúng ta lại có dịp xem bộ phim “Hồ Chí Minh, chân dung một con người” với bao tình cảm dâng trào.

Đoàn đại biểu các dân tộc Tây Nguyên viếng tang Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn

Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước quây quần quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ truy điệu tại xã Mỹ Quý Đông, tỉnh Long An

Chị em phụ nữ phường Tân Định, Sài Gòn

Lễ truy điệu tại vùng giải phóng Đồng Tháp Mười

Nhân dân miền Tây Nam Bộ

Lễ truy điệu tại vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam

Lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Linh

Lễ truy điệu tại trụ sở Hội văn nghệ giải phóng miền Nam

Nhân dân dọc biên giới Việt Nam-Campuchia tổ chức lễ tang

Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo viếng tang Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phút tưởng niệm tại địa đạo Củ Chi

Đã 43 năm, kể từ ngày Bác Hồ đi xa, nhưng với mỗi người dân Việt Nam hình ảnh của Bác, tấm gương đạo đức của Bác, những lời dặn dò của Bác trong bản di chúc trước lúc Người đi về cõi vĩnh hằng vẫn mãi mãi để các thế hệ hôm nay và ngày mai học tập và làm theo.

Như lời thơ của Tố Hữu trong bài “Bác ơi”:

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Phú Vinh(Website Nguyễn Tấn Dũng)

Bác Hồ với Thương binh Liệt sĩ

“Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta”.

Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng đã nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong cảnh đất nước hoà bình, ghi nhớ công ơn to lớn của các đồng chí thương binh, liệt sĩ, những người đã vì nền độc lập, tự do của dân tộc, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mà hy sinh thân mình hoặc bỏ lại một phần xương máu trên chiến trường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta

“Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý nhân ái có từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp này đã và đang được nhân dân ta phát huy từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà Bác Hồ là một tấm gương tiêu biểu nhất.

Sinh thời là Chủ tịch nước, mặc dù bận rất nhiều công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến và kiến quốc, nhưng hàng năm cứ đến ngày 27 tháng 7, “Ngày Thương binh, liệt sĩ” Bác đều gửi thư cho các đồng chí thương binh và gia đình liệt sĩ. Những bức thư của Người giản dị, chân thành. Đó là những lời động viên, an ủi, kêu gọi rất mộc mạc, nhưng cụ thể và thiết thực. Đọc những bức thư đó, ai cũng cảm nhận được tình cảm của Bác dành cho họ.

Trong Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi, Bác viết:

“Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến.

Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”.

Khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giám đốc Y tế Bắc Bộ hy sinh, trong thư chia buồn, Bác viết: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”.

Cách đây 60 năm, trong Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”, 17-7-1947, Bác nói về ý nghĩa cao cả của ngày 27 tháng 7. Đó là “Một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh”. Bác là người đề xuất phong trào “Đón thương binh về làng” với những việc làm rất cụ thể. Bác khuyên các cháu thiếu nhi lập phong trào Trần Quốc Toản để giúp đỡ gia đình bộ đội và thương binh, v.v..

Bác kêu gọi đồng bào cả nước hãy thể hiện tình cảm thương yêu, trách nhiệm và bổn phận của mình bằng những việc làm thiết thực nhất: “Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp đỡ chiến sĩ bị thương”. Chính Người đã tiên phong gương mẫu thực hiện lời kêu gọi đó: “Tôi xin xung phong gửi 1 chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, 1 tháng lương của tôi, 1 bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127.00đ).

Đặc biệt, nhân ngày 27 tháng 7 hàng năm, Bác trích một tháng lương Chủ tịch nước của mình tặng các đồng chí thương binh. Những tặng phẩm của đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài kính tặng Bác, Bác tặng lại các đồng chí thương binh.

Tháng 9-1951, Bác gửi thư cho anh em thương binh Trại dệt chiếu Tuyên Quang. Như tình cảm của người cha dành cho con, ân cần, tỉ mỉ, Bác hỏi: Học dệt chiếu cần bao nhiêu ngày, tháng? Trung bình dệt một chiếu thường cần mấy giờ và bao nhiêu vốn? Bán một chiếu được bao nhiêu lời? Với nghề dệt chiếu, có thể đủ ăn, đủ mặc không?

Câu chuyện chiếc điều hoà nhiệt độ trong phòng Bác là một trong nhiều câu chuyện thể hiện tấm lòng nhân ái bao la của một con người mà cả cuộc đời “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” của Người.

Một lần Bác đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội. Hôm đó, trời nóng, khi đến thăm anh chị em thương binh nặng phải nằm bất động, Bác vừa hỏi chuyện vừa cầm chiếc quạt giấy của mình quạt cho anh em. Trên đường về, Bác rất xúc động.

Chiếc điều hoà nhiệt độ là quà của các đồng chí ở Bộ Ngoại giao đang công tác ở nước ngoài gửi biếu Bác. Lúc đó, Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện trong Phủ Toàn quyền. Ngôi nhà có trần thấp, buổi trưa và buổi chiều rất nóng (lúc này Bác chưa chuyển sang Nhà sàn).

Khi các đồng chí phục vụ lắp chiếc điều hoà nhiệt độ vào phòng của Bác, Bác không dùng, mà nói với đồng chí Vũ Kỳ:

“Chiếc máy điều hoà nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là được rồi”.

Ngay chiều hôm đó, chiếc máy điều hoà nhiệt độ trong phòng của Bác được chuyển đi.

Những món quà của Bác giản dị nhưng vô cùng quý giá vì đó chính là sự quan tâm chăm sóc, là tình cảm của Người dành cho thương bệnh binh. Những món quà đó là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần to lớn đối với thương bệnh binh, làm ấm lòng người chiến sĩ. Đáp lại tình cảm ấy, bằng tinh thần và nghị lực của anh bộ đội Cụ Hồ, nhiều thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ đã có nhiều cố gắng vươn lên, tự lực cánh sinh trong lao động sản xuất, học tập và trong cuộc sống. Họ không những đã tạo ra công ăn việc làm cho mình và gia đình mình, mà còn tích cực giúp đỡ đồng đội và con em của họ, tạo dựng nên một cuộc sống có ích hơn, tươi đẹp hơn. Họ đã làm đúng theo lời Bác dạy: Thương binh tàn nhưng không phế.

Trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta Bản Di chúc lịch sử, trong đó có phần viết về chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người đã kinh qua chiến đấu.

Bác viết: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.

Ngày nay được sống trong cảnh đất nước thanh bình, chúng ta càng nhớ tới công lao và sự hy sinh to lớn của các thương binh và liệt sĩ. Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách ưu tiên đối với thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Đồng bào ta trên khắp mọi miền của Tổ quốc cũng đã làm nhiều công việc để đền ơn đáp nghĩa, như: Tặng quà cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách, xây nhà tình nghĩa, lập Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng các mẹ Việt Nam anh hùng, ủng hộ và giúp đỡ các nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam, giúp đỡ thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ, tìm mộ liệt sĩ, v.v..

Việc chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất, giảm bớt một phần khó khăn trong cuộc sống cho thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ là tình cảm, trách nhiệm và bổn phận của toàn xã hội. Xã hội ta sẽ ngày càng tốt đẹp hơn từ những việc làm đầy tình nghĩa đó. Phong trào đền ơn đáp nghĩa đã, đang và sẽ được nhân dân ta nhân lên và phát huy ngày càng rộng rãi.

 

 

 

Trung Quốc? Không bao giờ!

Một đoạn Video dài 9 phút đầy chân thưc về chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn 1 phóng viên người Pháp vừa được đưa lên Internet đã tạo một làn sóng xúc động mạnh mẽ và lòng tự hào dân tộc trong cư dân mạng Việt Nam khi lần đầu tiên được xem và nghe những lời nói giản dị mà đanh thép của Bác. Clip cũng tái hiện lại cảnh Hà Nội yên bình ngày xưa với phố xá rộn ràng xe đạp, góc phố xôn xao của một thời chiến tranh nhưng vẫn lịch lãm và đầy quyến rũ…

Bác Hồ trả lời phỏng vấn phóng viên Pháp 6.1964

Phóng viên: Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

Bác Hồ: JAMAIS! (không bao giờ)