Lưu trữ

Posts Tagged ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh’

Bác Hồ với thương binh liệt sĩ

Bác Hồ viếng Nghĩa trang Liệt sĩ

Bác Hồ viếng Nghĩa trang Liệt sĩ

Sinh thời, Bác Hồ luôn bày tỏ sự kính trọng đối với các liệt sĩ, thương binh. Ngay khi nước nhà vừa giành được độc lập và đang trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà”. Ngày 27.7.1947, Báo “Vệ quốc quân” số 11 đăng bức thư của Bác, trong đó có đoạn: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay đã một số thành ra thương binh”.

Xem chi tiết…

Bộ mặt thật của Bùi Tín

25/03/2013 7 comments

Bùi Tín trở thành cái tên được nhiều người biết đến trên mạng Internet nhờ vào những bài viết xuyên tạc về tình hình Việt Nam, bôi nhọ thanh danh của chủ tịch Hồ Chí Minh, với những lời lẽ kích động, đánh tráo lịch sử.

Bộ mặt của Bùi Tín

Bộ mặt của Bùi Tín

Bùi Tín được biết đến là một con người trốn đi nước ngoài theo tiếng gọi của người tình. Rồi tha hương nơi đất khách quê người, Bùi Tín phải uốn mình bám lấy “quê hương” mới, quay lưng lại, chửi bới quê hương nơi mình được sinh ra và lớn lên.

Xem chi tiết…

Việt Nam: “Những ánh mắt không hận thù”

Có một Việt Nam vốn dĩ là điểm đến của hòa bình, có một Việt Nam giản dị, nhỏ bé mà kiên cường, vĩ đại như hiện thân của Hồ Chủ tịch. Và có một Việt Nam đang dần biến đổi từng ngày trong lòng bạn bè quốc tế…

“Những ánh mắt không hận thù”

Đó là những sẻ chia như… rút ruột được viết trong hồi ký “Một mình đến Việt Nam” của nữ diễn viên, nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Mỹ nổi tiếng Jane Fonda khi nói về đất nước hình chữ S bé nhỏ ở nam bán cầu, cách Tổ quốc của bà tới nửa vòng trái đất.

Jane Fonda tại Hà Nội

Jane Fonda tại Hà Nội

Jane Fonda còn được biết đến với cái tên Jane Hà Nội, sinh ngày 21/12/1937. Bà là một trong những nữ diễn viên Mỹ tiên phong trong phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam do chính quyền Mỹ phát động và từng có mặt tại Hà Nội để bày tỏ sự phản chiến trong giai đoạn không quân Hoa Kỳ mở chiến dịch ném bom dữ dội vào thành phố. Trong những ngày tháng Hà Nội chìm trong khói lửa chiến tranh, Jane Fonda đã một mình đến Việt Nam và lưu trú tại khách sạn Thống Nhất, nay là khách sạn Sofitel Lengend Metropole Hà Nội. Cho đến nay, bà vẫn được xem là một trong những “người bạn tốt” của nhân dân Việt Nam.

Trong những mảng hồi ức đầy xúc động về chuyến đi Việt Nam của mình, Jane viết: “Chẳng bao lâu máy bay đã vào vùng trời Việt Nam. Tôi bắt đầu hình dung ra đất nước này giống hình ảnh một phụ nữ vươn cao đầu, chiếc bụng mang bầu của người phụ nữ này vươn ra phần biển, trông cô bé nhỏ và mong manh đến nỗi bất kỳ một siêu quyền lực nào cũng cảm thấy chắc chắn là sẽ chiếm giữ được cô chỉ trong thoáng chốc. Đất nước này nằm trên một mảnh đất thật mảnh dẻ, mảnh dẻ như chính những con người đang cư ngụ trên đó (…) Chuyến xe dài một giờ từ sân bay về Hà Nội là một chấn động lớn. Tôi chờ đợi nhìn thấy một sự tuyệt vọng. Thay vào đó, tôi thấy người, rất nhiều người, bận rộn với công việc của họ, mặc dù vừa mới cách đây một tiếng thành phố bị thả bom…”.

Bà nhớ lại: “Mọi người dân đều đội nón lá, mặc áo trắng và quần thâm theo kiểu truyền thống của nông dân Việt Nam… Đây đó tôi nhìn thấy những đống đổ nát, nhà mất nóc và những hố bom… Ngồi trong xe, tôi không thể cất lời. Cảm xúc cuốn tôi đi quá mạnh mẽ – buồn đau và tội lỗi về những điều mà chính phủ của tôi đang làm, khâm phục cách người dân ở đây tiếp tục cuộc sống của họ và không tin nổi rằng, đây không phải là giấc mơ, tôi đang thật sự ở đây, một mình.

Khoảng giữa đêm tôi bật dậy giữa giấc ngủ sâu vì tiếng còi báo động xé tan không trung. Một người phục vụ xuất hiện trước cửa phòng khách sạn mang theo cho tôi một chiếc nón bảo hộ. Cô ấy hướng dẫn tôi xuống hầm trú bom phía sau khách sạn. Trên đường xuống cầu thang ra sân sau, tôi nhìn thấy nhân viên khách sạn bình tĩnh làm việc của mình…

Và có lẽ xúc động nhất, đáng ghi nhớ nhất vẫn là những lời này: “Chúng tôi lái xe xuyên thành phố đến Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô để tôi khám chân… Phiên dịch trong ngày của tôi là Chi. Cô nói với các bác sĩ tôi là người Mỹ và câu giới thiệu này gây xôn xao xung quanh. Tôi tìm một biểu hiện hằn thù trong mắt những người tôi thấy. Nhưng tuyệt nhiên không có gì. Những ánh – mắt – không – hận – thù ấy ám ảnh tôi suốt nhiều năm sau khi cuộc chiến chấm dứt…”.

Cho đến bây giờ, với nhiều người Mỹ nói riêng và du khách nước ngoài đến Việt Nam nói chung, Hà Nội vẫn là một điểm đến an toàn, “thành phố vì hòa bình” như bao đời vẫn thế. Chỉ có điều, Jane Fonda dường như đã nhận ra điều ấy sớm hơn, cảm nhận được nhiều hơn qua những gì mắt thấy tai nghe. Đáng nói hơn, Jane đã thổi lòng cảm mến Việt Nam và những rung động trái tim mình vào cuộc đấu tranh cho hòa bình, tự do, phản đối cuộc chiến tạo ra bởi chính chính phủ quê hương bà.

“Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ!”

Những sáng tác về Hồ Chủ tịch viết bởi người Việt thậm chí nhiều không kể siết! Thế nhưng, giữa muôn vàn những tác phẩm đầy sắc màu ấy, cái tên Ewan MacColl và bản ballad trữ tình mà nhẹ nhàng vui tươi mang tên Hồ Chí Minh của ông nổi lên như một đóa hoa vừa lạ lẫm, vừa đẹp đẽ lại vô cùng đặc biệt.

Vào đêm nghe tin Pháp đã thất bại ở Điện Biên Phủ (7/5/1954), nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl đã nói với những người bạn của mình: “…Tại sao chiến thắng đặc biệt có ý nghĩa này lại xảy ra ở Việt Nam mà không phải ở một mảnh đất thuộc địa nào khác? Gần đây, tôi đã được đọc một cuốn sách quý, gồm nhiều bài viết của một số giáo sư sử học phương Đông và Pháp, Italia… ca ngợi một nhân vật vĩ đại của thế kỷ XX. Đó là cụ Hồ Chí Minh, nhà lãnh tụ vừa dẫn dắt nhân dân Việt Nam làm nên chiến thắng kiệt xuất Điện Biên Phủ”. Cảm hứng để Ewan MacColl viết nên một sáng tác để đời dành tặng cho vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam bắt đầu như thế. Ông lý giải rằng, nhịp điệu bài hát chính là làn điệu dân ca cổ Saxon. “The ballad of Ho Chi Minh” được xem là món quà tràn đầy tình cảm của người dân nước Anh dành cho Hồ Chủ tịch. Bài hát nhanh chóng được lưu truyền khắp Việt Nam, Pháp và các tầng lớp phản chiến khác, ngày càng được dịch ra nhiều thứ tiếng và lan truyền khắp thế giới.

Trong đêm khai mạc “Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng chiến tranh tại La Habana, Cuba năm 1967”, Ewan MacColl đã biểu diễn bài hát này cũng nữ nghệ sĩ Peggy Seeger, người bạn đời của ông và đã nhận được những tràng vỗ tay tán thưởng đề nghị biểu diễn lại. Và sau khi Đại hội liên hoan quốc tế ca hát phản kháng (1967) kết thúc, vợ chồng Ewan MacColl đã trao tặng bản nhạc trên và ngoài bìa có ghi mấy câu thơ:

Bản nhạc “The ballad of Ho Chi Minh” và nhạc sĩ Ewan MacColl

Bản nhạc “The ballad of Ho Chi Minh” và nhạc sĩ Ewan MacColl

“Trên đời có những vật không thể thay đổi

Có những con chim không khuất phục bao giờ

Có những tên người sống mãi với thời gian

Hồ Chí Minh”.

Với một nhạc sĩ như Ewan, Việt Nam trong ông có lẽ là một hiện thân cụ thể, luôn gần gũi, giản dị và hào hùng như chính người con kiệt xuất sinh ra từ mảnh đất này và được gọi tên trong khúc ca của ông:

“Miền biển Đông, xa tắp nơi chân trời

Ở nơi xa đó, người dân đói nghèo

Từ đau thương người đi khắp năm châu

Lòng tin mặt trời chân lý sáng soi

Rọi chiếu sáng dân mình

Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh!”…

Những cảm nhận và tình cảm đáng trân trọng ấy luôn khắc sâu trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Hôm nay, vẫn có những người nghệ sĩ nước ngoài mải miết đi tìm cho mình một chút “tâm hồn” Việt trong sáng tác. Từng thước phim, từng mảng màu vẽ, từng dòng thơ, câu chữ của họ đều chứa đựng những khát khao khám phá đất nước và con người Việt Nam. Mới đây nhất, nhà điêu khắc người Pháp Lolo Zazar cho ra mắt triển lãm nghệ thuật thị giác với tên gọi “Lời của tường” tại Trung tâm Văn hóa Pháp (Hà Nội). Các tác phẩm lấy cảm hứng từ những thay đổi liên tục và nhanh chóng của Hà Nội thông qua những bức tường, dưới góc nhìn của một người nước ngoài đã sinh sống tại Việt Nam suốt 1.800 ngày qua.

Và, trong lòng những người bạn quốc tế từ xưa đến nay, vẫn luôn có một Việt Nam… như thế!

Theo Website Nguyễn Tấn Dũng

Tuyên ngôn độc lập năm 1945

– Giữa những ngày Cách mạng tháng Tám đang diễn ra sôi sục Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã dành đựơc chính quyền.

– 25/8/1945 Hồ Chí Minh cùng với Trung Ương Đảng, Ủy ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội. Theo đề nghị của Người, 1 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Công hòa được thành lập, công cuộc chuẩn bị cho ngày Chính phủ Lâm thời ra mắt trước quốc dân đồng bào được tiến hành khẩn trương.

– Ngày 28/8/1945 c/quyền đã dành được trong toàn quốc. Việt Nam thực sự trở thành 1 nước độc lập, tự do. Thay mặt cho Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh viết “Tuyên ngôn độc lập” tại gác 2 số 48 phố Hàng Ngang – Hà Nội.

– Ngày 02.9.1945 trước sự chứng kiến của hàng vạn nhân dân Thủ Đô – Đại diện cho nhân dân cả nước, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với ndân cả nước và nhân dân thế giới bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dâm chủ Cộng hòa.

43 năm ngày Bác đi xa

Cứ mỗi độ tháng 9 về, chúng ta lại có dịp xem bộ phim “Hồ Chí Minh, chân dung một con người” với bao tình cảm dâng trào.

Đoàn đại biểu các dân tộc Tây Nguyên viếng tang Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn

Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước quây quần quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lễ truy điệu tại xã Mỹ Quý Đông, tỉnh Long An

Chị em phụ nữ phường Tân Định, Sài Gòn

Lễ truy điệu tại vùng giải phóng Đồng Tháp Mười

Nhân dân miền Tây Nam Bộ

Lễ truy điệu tại vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam

Lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Linh

Lễ truy điệu tại trụ sở Hội văn nghệ giải phóng miền Nam

Nhân dân dọc biên giới Việt Nam-Campuchia tổ chức lễ tang

Đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo viếng tang Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phút tưởng niệm tại địa đạo Củ Chi

Đã 43 năm, kể từ ngày Bác Hồ đi xa, nhưng với mỗi người dân Việt Nam hình ảnh của Bác, tấm gương đạo đức của Bác, những lời dặn dò của Bác trong bản di chúc trước lúc Người đi về cõi vĩnh hằng vẫn mãi mãi để các thế hệ hôm nay và ngày mai học tập và làm theo.

Như lời thơ của Tố Hữu trong bài “Bác ơi”:

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Phú Vinh(Website Nguyễn Tấn Dũng)

Võ Nguyên Giáp – Huyền thoại bất tận

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những chiến công lẫy lừng. Bên cạnh đó, có những chuyện ít người biết, gợi băn khoăn pha chút tò mò với những người kính yêu Đại tướng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 102 tuổi

Ngày 25/8/2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn đại thọ 101 tuổi. Đại tướng được toàn thể nhân dân Việt Nam, bạn bè quốc tế và cả đối phương yêu quý, kính nể gọi ông là “vị tướng thần thoại”.

Đại tướng chưa bao giờ treo chữ “Nhẫn”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi tiếng là người làm việc bền bỉ, không ngừng nghỉ. Nhiều cán bộ làm việc trong Văn phòng Đại tướng đã phải thốt lên “sao lại có người làm việc trí óc với cường độ lớn đến thế” khi thấy ông làm việc suốt ngày suốt đêm, không nghỉ chủ nhật.

Trước tin đồn về việc phòng làm việc của Đại tướng có treo chữ “Nhẫn”, trả lời Vietnam+, Đại tá Nguyễn Huyên, người trợ lý đã gắn bó với tướng Giáp gần 40 năm (trong đó gần 20 năm phụ trách văn phòng của Đại tướng), khẳng định: “Chuyện nói Đại tướng treo chữ “nhẫn” là hoàn toàn bịa đặt. Đại tướng không hề treo chữ đó”.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Đại tá Nguyễn Huyên cho biết thêm: Một lần có người yêu kính Đại tướng muốn tặng anh chữ “Nhẫn” thư pháp lồng trong khung kính. Trước khi tặng, người đó có đến hỏi đại tá Nguyễn Huyên và ông đã nói với người này về hai cách hiểu chữ “nhẫn”. Thứ nhất có nghĩa là kiên nhẫn, nhẫn nại nhưng cũng có nghĩa thứ hai là nhẫn nhục. Đại tướng chưa bao giờ là người chịu nhẫn nhục theo cách hiểu thứ hai. Vì vậy, không nên tặng Đại tướng chữ “nhẫn” vì có thể làm cho người ta hiểu sai lệch hoặc có kẻ xuyên tạc.

Là người nhiều năm làm việc bên cạnh Đại tướng, đại tá Nguyễn Huyên rất hiểu tướng Giáp. Ông cho biết, Đại tướng ghét nhất là xu nịnh. Những ai cứ khúm núm, nói theo, nói cho vừa ý cấp trên không có chính kiến rõ ràng là Đại tướng không thích. “Có câu chuyện thế này: Tôi nhớ một hôm có đồng chí cán bộ cấp cao đi nước ngoài về đến thăm anh, nói với anh: “Người như Đại tướng thì ở bên đó người ta dựng tượng lâu rồi đấy ạ!” Anh nghe đến đấy liền hỏi: “Anh nói cái gì vậy! Đó là việc của người ta.”, đại tá Huyên kể.

“Nghề tay trái” của tướng Giáp

Có một chi tiết thú vị ít người biết, trong những năm 1936 – 1939, Đại tướng dành phần lớn thời gian cho hoạt động báo chí. Chi tiết này đã đem đến một góc nhìn khác về vị tướng huyền thoại: Nhà báo Võ Nguyên Giáp.

Võ Nguyên Giáp làm báo với các bút danh Hải Thanh, Vân Đình… Trước năm 1936, ông đã bắt đầu viết báo và có nhiều bài được đăng. Năm 1929, Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh đã viết bài “Vũ trụ và tấn hoá” đăng trên hai số 218 (ngày 28/9/1929) và 222 (ngày 10/10/1929) trên báo “Tiếng Dân”, tờ báo lớn nhất xứ Trung Kỳ lúc đó do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút.

Nhân sự việc Giám đốc trường Quốc học Huế đuổi một số học sinh của trường do tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu (6/1925), Võ Nguyên Giáp viết ngay một bài báo bằng tiếng Pháp “Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học” gửi đăng báo L’Annau ở Sài Gòn. Lúc ấy, Luật sư Phan Văn Trường đang làm chủ bút tờ báo này đã phải thốt lên: “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Pari”.

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo "Tiếng Dân" (1929 - 1930).

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo “Tiếng Dân” (1929 – 1930).

Theo Trung tướng Phạm Hồng Cư, anh em đồng hao với Đại tướng, Võ Nguyên Giáp thực sự tập trung làm báo từ năm 1936 khi ông cùng với Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hải Triều… mua lại và làm hồi sinh báo “Hồn Trẻ” đang ngừng xuất bản do thua lỗ. Có thể nói đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên công khai cổ động đấu tranh cho các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, đòi đại xá chính trị phạm… Báo rất được bạn đọc hoan nghênh, in ra không đủ bán. Báo ra đến số 5 thì bị nhà cầm quyền thực dân Pháp đóng cửa. Tuy nhiên đây là tiếng chuông báo hiệu phong trào hoạt động báo chí công khai của Mặt trận Dân chủ Đông Dương trong thời kỳ 1936 – 1939.

Không thể sớm có một tờ báo tiếng Việt trong tình hình ấy, Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí quyết định cho ra một tờ báo tiếng Pháp. Ngày 16/9/1936, báo Le Travail (Lao động) ra số đầu tiên. Võ Nguyên Giáp làm biên tập viên chính, được phân công viết khá nhiều đề tài: cổ vũ Đông Dương đại hội, Mặt trận Dân chủ, thời sự quốc tế, đời sống nông dân với các cuộc đấu tranh ruộng đất như Cồn Thoi, những cuộc đấu tranh bãi công của thợ xẻ, thợ giày, thợ mỏ…

Trung tướng Phạm Hồng Cư cho biết thêm: “Thời gian này, anh Giáp làm việc rất hào hứng, mặc dù sức khỏe của anh không tốt cho lắm. Nghe tin có cuộc bãi công lớn của công nhân vùng mỏ, anh đã đạp xe 200km từ Hà Nội về tới Cẩm Phả để viết bài đăng báo… Le Travail tồn tại được 7 tháng với 30 số báo. Ngày 16/4/1937, nhà cầm quyền thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa”.

Võ Nguyên Giáp vẫn tích cực tham gia viết bài cho các báo: Tin tức, Thế giới, Hà thành, Thời báo, Đời nay, Ngày mới… và một số tờ báo tiếng Pháp. Hàng loạt bài viết của Võ Nguyên Giáp nhằm tố cáo sự bóc lột dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam đã gây tiếng vang lớn trong đông đảo người đọc thời bấy giờ.

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: "Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng".

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: “Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng”.

Trong công việc báo chí, Võ Nguyên Giáp đã trải qua hầu hết các khâu của nghề báo, từ viết xã luận, thời đàm nghị luận, điều tra, phóng sự, biên tập, duyệt bài, sắp xếp nội dung, cho tới bố cục, lên trang, trình bày, đưa nhà in, sửa morasse và không ít khi cả việc phát hành báo. Có những kỷ niệm khó quên trong đời làm báo của Đại tướng. Có lần cùng một lúc, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam đều bận việc đột xuất không kịp viết bài, Võ Nguyên Giáp ngồi từ 6h chiều đến 6h sáng hôm sau, viết kín một thếp giấy 48 trang và bố cục, trình bày xong cả một số báo cho kịp đưa xuống nhà in, sau khi ăn điểm tâm, lại tới Trường Thăng Long dạy học.

Những năm đất nước đổi mới, các bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn được công chúng đón đợi. Ngày 10/9/2007, trên báo Sài Gòn Giải Phóng xuất hiện bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tiêu đề: “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” gây chấn động dư luận, đặc biệt hơn lúc này tác giả đã vào tuổi 97.

Năm 1991, Hội Nhà báo Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam dành cho những người đã có từ 25 năm làm báo trở lên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đón nhận phần thưởng này với niềm tự hào. Nhân dịp này, Đại tướng đã chia sẻ về nghề báo trong bài báo “Mười lăm năm làm báo trước Cách mạng tháng Tám”, đăng trên tạp chí Nhà báo và Công luận số tháng 8/1991 như sau:

“Nghề báo là một nghệ thuật đầy hứng thú. Sau này, khi chuyển qua công tác quân sự, tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Đó là một công việc luôn luôn khẩn trương, phải phát hiện kịp thời mưu đồ, thủ đoạn của giai cấp thống trị, yêu cầu, tâm lý đa dạng và thường xuyên thay đổi của bạn đọc, nguyện vọng sâu xa của nhân dân, để biết mình phải làm gì…”.

Đất Việt

 

 

 

Cách mạng Tháng Tám – Biểu tượng cuộc đấu tranh kỳ diệu

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam năm 1945 là cuộc cách mạng hết sức quan trọng không chỉ đối với Việt Nam, mà còn tác động lớn trên thế giới, nhất là đối với các nước thuộc địa khi đó. Đây cũng là động lực để các chuyên gia, nhà sử học quốc tế tìm tòi, nghiên cứu về thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

Sự kiện quan trọng nhất sau Cách mạng Tháng Mười Nga

Trong bối cảnh lịch sử chung của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, Đông Nam Á nói riêng, với thời cơ thuận lợi giống nhau, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam nổ ra đúng lúc, kịp thời cơ và thắng lợi triệt để. Do đó, ảnh hưởng của cuộc cách mạng này sâu rộng ở trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Bức ảnh “Ngày độc lập”, trong bộ sưu tập của Giáo sư người Pháp Phi-líp Đờ-vi-lê (Phillippe Devillers) trưng bày tại Nhà thông tin Tràng Tiền, nhân dịp 2-9-2010. Nguồn: Internet

Bức ảnh “Ngày độc lập”, trong bộ sưu tập của Giáo sư người Pháp Phi-líp Đờ-vi-lê (Phillippe Devillers) trưng bày tại Nhà thông tin Tràng Tiền, nhân dịp 2-9-2010. Nguồn: Internet

Trong cuốn “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976. tr.224, tác giả Thô-mát Hót-kin (Thomas Hodgkin), người Anh, đánh giá Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa. Nó đã nổ ra trong một thời điểm lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”.

Nhà sử học Na Uy Xtên Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson) trong cuốn sách “Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-xơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong một cuộc chiến tranh thế giới”, xuất bản năm 1991, cũng cùng chung nhận định rằng, Cách mạng Việt Nam quan trọng vì không phải đơn thuần xảy ra trong bối cảnh Việt Nam. “Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu về một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh, quá trình phi thực dân hóa. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cuộc cách mạng của người Việt Nam có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất”, nhà sử học Tôn-nét-xơn nhấn mạnh.

Sự tất yếu mang tính logic

Theo nhà sử học Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Charles Fournieau), nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, Cách mạng Tháng Tám đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử Việt Nam, phản ánh cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chống lại sự chiếm đóng của giặc ngoại xâm, đồng thời đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Không những thế, thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam còn có ý nghĩa quốc tế, bởi lẽ đây là một trong những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới. Đối với phong trào cách mạng Đông Dương cũng như thế giới, Cách mạng Tháng Tám có vai trò đặc biệt quan trọng.

A-lanh Ru-xi-ô (Alain Ruscio) là một trong những nhà sử học ở Pháp rất quan tâm và đi sâu nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, về các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Theo nhà sử học này, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam không chỉ là sự kiện gây bất ngờ, mà đó cũng là sự tất yếu mang tính logic trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Ông nhấn mạnh, đây là sự kiện trọng đại của cả dân tộc Việt Nam.
Đồng quan điểm với hai nhà sử học trên, nhà báo, nhà nghiên cứu người Pháp Đa-ni-en Ru-xen (Daniel Roussel) còn khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cuộc đấu tranh kỳ diệu của nhân dân Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Dù có những nhận xét phong phú về thành công của Cách mạng Tháng Tám, nhưng các nhà sử học nước ngoài đều cùng chung một quan điểm khi cho rằng, có được thành công trên là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ đó, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dẫn tới việc chính thức lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945.

Theo (QĐND)