Archive

Posts Tagged ‘Đặng Tiểu Bình’

Việt Nam cần liên minh với ai?

Bấy lâu nay, một trong những đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích, nhận định, dự báo, đó là khả năng về xử lí mối quan hệ Việt Nam với các nước lớn mà chủ yếu là Mỹ và Trung Quốc.

Việt Nam cần liên minh với ai?

Việt Nam cần liên minh với ai?

Hầu hết đều đặt câu hỏi “Chúng ta nên liên minh với ai” để bảo vệ vững chắc nền an ninh quốc gia, tạo cơ hội phát triển đất nước. Đấy là những trăn trở rất đáng trân trọng. Phần lớn ý kiến cho rằng, không thể liên minh với Trung Quốc vì bài học quá khứ và hiện tại cho thấy Trung Quốc luôn xử sự với Việt Nam với thái độ bành trướng, đại hán, hiếp đáp hoặc kiềm tỏa Việt Nam trong sự lệ thuộc yếu với họ. Một số ý kiến cho rằng, nên liên minh với Mỹ, dựa vào sức mạnh Mỹ để chống chọi với Trung Quốc. Nước Mỹ luôn bênh vực, bảo vệ cho kẻ yếu. Tuy nhiên để đi với Mỹ thì phải “từ giã ý thức hệ, mở cửa tự do nhân quyền”.

Xem chi tiết…

Bài học lịch sử của Việt Nam và các tử huyệt của Trung Quốc

“Trung Quốc có dân số đông, vũ khí nhiều, GDP đứng thứ 2 trên thế giới, là uỷ viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc, được nhiều nước nể nang vì có một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng có những điểm yếu chết người”.

Được biết đến không chỉ với những phát biểu mạnh mẽ trên nghị trường về các vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước mà còn là một học giả có uy tín, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết – nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã có những nhận định rất sắc sảo về tình hình Biển Đông cũng như về Trung Quốc trong thời điểm hiện nay.

Nguy cơ và những bài học lịch sử đối với Việt Nam

Nhận định về tình hình hiện nay, GS Nguyễn Minh Thuyết nói: “Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta đang đứng trước thử thách rất lớn bởi tham vọng bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Từ lâu, họ đã thực hiện đường lối nhất quán xưng hùng xưng bá ở Biển Đông. Có thể nói là họ đã làm được nhiều việc: Một mặt tích cực tuyên truyền nhằm kích động tinh thần dân tộc của người trong nước, đồng thời công khai hoặc ngấm ngầm đưa ra những thông tin xuyên tạc nhằm tác động vào dư luận quốc tế theo hướng có lợi cho họ và trên thực tế cũng đã có những tổ chức khoa học và cơ quan truyền thông nước ngoài nhầm tưởng về chuyện này.

Mặt khác, họ cũng đang khẩn trương hiện đại hóa quân đội và hải quân với việc đóng tàu sân bay, tàu ngầm, lập căn cứ hải quân trên Biển Đông… Họ cũng làm nhiều động tác để chứng tỏ chủ quyền tại nơi họ gọi là “đường lưỡi bò”, biến vùng biển không có tranh chấp thành vùng biển có tranh chấp, gây ra những vụ khiêu khích, xung đột bộ phận để lôi kéo sự chú ý của dư luận và thăm dò phản ứng của các nước có liên quan…

Đảo Trường Sa Lớn (quần đảo Trường Sa) nhìn từ trên cao

Đảo Trường Sa Lớn (quần đảo Trường Sa) nhìn từ trên cao

Về mặt kinh tế, hiện nay, trên 90% các gói thầu lớn của Việt Nam đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Họ đưa hàng chục ngàn lao động sang Việt Nam và những khu vực sát sườn Việt Nam. Thương lái Trung Quốc xuôi ngược khắp nơi, từ Bắc chí Nam, cài cắm cả ở những vùng biển nhạy cảm.

Đây là tình thế rất nguy hiểm. Nếu chúng ta không đánh giá đúng mức tình thế này thì nguy cơ là rất cao. Trung Quốc mà áp đặt được “đường lưỡi bò” trên Biển Đông thì Biển Đông chỉ còn là “cái ao”, và biển của chúng ta sẽ trở thành cổ tích với các thế hệ mai sau”.

GS Thuyết phân tích: “Chúng ta cần nhớ những bài học thất bại trong lịch sử nước nhà. Điểm lại từ buổi đầu dựng nước đến giờ, Việt Nam ta đã ba lần mất nước, rơi vào vòng nô lệ của ngoại bang.

Lần thứ nhất vào thời An Dương Vương, mà nguyên nhân là mất cảnh giác, đem giặc vào nhà. Từ đó, nước ta rơi vào vòng nô lệ phương Bắc suốt 1000 năm (từ năm 179 tr. CN đến năm 938). Lần thứ hai mất nước là vào thời nhà Hồ. Hồ Quý Ly có tài nhưng không được lòng dân nên mới lập ra triều Hồ được 7 năm thì nước mất vào tay giặc Minh. Lần đô hộ này kéo dài chẵn 20 năm (1407 – 1427).

Lần thứ ba mất nước là vào thời Nguyễn. Khiếp nhược trước sức mạnh của giặc ngoại xâm, nhà Nguyễn không những không cho quân dân ta đánh Pháp mà còn đem quân triều đình đi “dẹp loạn”. Đó là lần mất nước do triều đình hèn nhát, sợ dân hơn sợ giặc, khiến nước ta trở thành thuộc địa của thực dân (1884 – 1945).

Đó là những bài học đắt giá cho chúng ta hôm nay. Chúng ta phải luôn mài sắc tinh thần cảnh giác, không vì bất kỳ lý do nào để người ngoài “ru ngủ” dẫn đến tình thế khó gỡ của An Dương Vương. Về đối nội thì phải khoan sức dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Phải làm cho mỗi người Việt Nam thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và tin tưởng vào sức mạnh Việt Nam trong cuộc đấu tranh thiêng liêng bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.

Những điểm yếu chết người của Trung Quốc

Nói về mặt mạnh, mặt yếu của Trung Quốc, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Trung Quốc có dân số đông, vũ khí nhiều, GDP đứng thứ 2 trên thế giới, là uỷ viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc, được nhiều nước nể nang vì có một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng có những điểm yếu chết người”.

Thứ nhất, theo GS Thuyết, dân số Trung Quốc đông nhưng do thực hiện chính sách mỗi gia đình một con nên đông mà không mạnh. Chỉ cần chịu một tổn thất lớn về người trong một trận chiến thôi, cả nước sẽ rung chuyển và sức chiến đấu sẽ bị suy yếu một cách nhanh chóng.

Thứ hai, “về kinh tế, GDP của Trung Quốc đứng thứ 2 sau Mỹ và trên cả Nhật. Nhưng chất lượng GDP rất thấp, GDP bình quân đầu người lại càng thấp. Sẽ chẳng ai dám nói rằng chất lượng nền kinh tế của Trung Quốc cao hơn Nhật Bản. Thậm chí, còn thua cả Hàn Quốc. Thêm nữa, nền kinh tế phát triển nhanh và nóng dẫn đến nguy cơ phát triển thiếu bền vững.

Dù GDP của Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới nhưng chất lượng kinh tế của Trung Quốc lại thấp

Dù GDP của Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới nhưng chất lượng kinh tế của Trung Quốc lại thấp

Thứ ba, về mặt xã hội, sự phân hóa giàu nghèo giữa các đối tượng và các vùng khác nhau ngày càng gia tăng khiến nội bộ Trung Quốc ngày càng trở nên bất ổn.

Thứ tư, vấn đề dân tộc tại Trung Quốc cũng đang chứa đựng sự bất ổn thường xuyên. Nóng nhất, tiềm ẩn nguy cơ lớn nhất là ở các vùng Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông. Đây là vấn đề khiến chính quyền Trung Quốc phải dành sự quan tâm đặc biệt và xếp vào hàng “lợi ích cốt lõi”. Nếu tranh chấp Biển Đông biến thành chiến tranh kéo dài thì bất ổn nội bộ càng có điều kiện bùng phát, dẫn đến hệ quả khó lường.

Thứ năm, về mặt quân sự, Trung Quốc là nước sở hữu vũ khí hạt nhân. Nhưng trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc sử dụng vũ khí hạt nhân là điều gần như không thực hiện được, nhất là trong điều kiện Trung Quốc đã ký hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Trung Quốc đã trải qua gần 60 năm không có chiến tranh ngoài những cuộc chiến nhỏ ở biên giới nên kinh nghiệm chiến đấu cũng là một vấn đề lớn của quân đội.

Vũ khí nhiều nhưng xét về độ chính xác, hiện đại thì không thể so với Nga và các nước phương Tây. Mà vũ khí thì nước nào cũng có thể bỏ tiền ra mua những vũ khí hiện đại nhất, chỉ trừ bom hạt nhân.

Thứ sáu, về mặt pháp lý, căn cứ xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa rất yếu. Đường lưỡi bò lại càng phi lý. Nếu có căn cứ pháp lý vững thì chắc chắn Trung Quốc đã chấp nhận thách thức của một số nước liên quan đưa ra Toà án công lý quốc tế rồi.

Trên trường quốc tế, họ vướng phải thái độ e dè của các nước trên thế giới nhất là đối với châu Phi sau khi các nước tại lục địa này nhận được những khoản hỗ trợ rất hào phóng từ Trung Quốc. Chính sự tham lam cùng với một ý đồ bá quyền đã lật tẩy mặt nạ của họ trước cộng đồng quốc tế.”.

Trung Quốc đang lo ngại nhất điều gì?

Theo ông Thuyết, Trung Quốc còn đang phải tính toán thêm để không bộc lộ mưu đồ bá quyền một cách “quá đáng”, trái với lời dặn của Đặng Tiểu Bình: “nép mình chờ thời”, “nhất quyết không đi đầu” khi chưa thực sự đủ mạnh. Thể hiện tham vọng quá sớm không khác gì Cao Biền dậy non, sẽ bị các nước đề phòng, ghẻ lạnh, tẩy chay và bị các cường quốc chèn ép.

Thực tế cho thấy cùng với sự thể hiện tham vọng quá rõ của Trung Quốc ở Biển Đông, nước Mỹ đang xuất hiện trở lại khu vực này và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Trước tình hình đó, Trung Quốc không thể gây căng thẳng với các nước trong khu vực mà không làm cho họ xích về phía Mỹ. Đó là điều cho đến nay vẫn ngăn trở Trung Quốc có những hành động mạnh hơn.

Dù GDP của Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới nhưng chất lượng kinh tế của Trung Quốc lại thấp

Dù GDP của Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới nhưng chất lượng kinh tế của Trung Quốc lại thấp

Theo ông Thuyết, một lý do nữa khiến Trung Quốc khó có thể có những hành động mạnh hơn là vì nếu chiến tranh nổ ra trên biển Đông thì con đường vận chuyển 60% lượng dầu mỏ phục vụ cho nền kinh tế khồng lồ của nước này sẽ trở nên thiếu an toàn. Thiếu dầu mỏ, nền kinh tế của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Còn nếu Trung Quốc định chiếm các đảo của nước khác thì dù có chiếm được cũng không giữ nổi vì các đảo ở quá xa nước này, trong khi lại rất gần Việt Nam và các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền.

“Thời gian tới đây, chúng ta phải tăng cường công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo. Tôi biết hiện nay trong sách giáo khoa lịch sử của chúng ta, phần thông tin về các quần đảo và chứng cứ pháp lý về chủ quyền của ta tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn quá ít. Đó là thiếu sót của chúng ta. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần khắc phục ngay hạn chế này.

Thêm nữa, những diễn biến trên Biển Đông phải được thông tin đầy đủ, thường xuyên tới người dân để tăng cường nhận thức chung cho công dân về chủ quyền lãnh thổ trên biển.

Ngoài ra, chúng ta nên tin vào thái độ của nhân dân. Đó là một sự hỗ trợ đắc lực cho Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Sự phản đối mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân sẽ làm Trung Quốc phải chùn tay”, ông Nguyễn Minh Thuyết gửi gắm những điều tâm huyết của mình và hẹn chúng tôi quay trở lại đề tài này khi có dịp.

Tướng Trung Quốc đề nghị xét lại quan điểm gác tranh chấp?

Ngày 17/5 tại Bắc Kinh, Báo Văn hối Hồng Kông đã tổ chức buổi tọa đàm về vấn đề Biển Đông, gồm 6 ông tướng “văn phòng” Trung Quốc tham gia. Họ cho rằng: Đối với chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” lâu nay của Trung Quốc cần phải xem xét lại.

Đây là một sách lược lớn của ông Đặng Tiểu Bình, vậy tại sao lại có sự đề xuất từ những vị tướng “diều hâu” này?

Bất kỳ ai trên thế giới, kể cả những người dân Trung Quốc có lòng tự trọng, nhìn cái đường “lưỡi bò” mà Trung Quốc vẽ trên Biển Đông đều có cảm giác hết sức “ngứa mắt” và cũng nhận rõ nhân cách, đạo đức của tác giả đường “lưỡi bò” này: Bành trướng, tham lam vô độ; cậy lớn hiếp bé, ngang ngược, bất chấp luật lệ.

Dân tộc Trung Hoa từ xưa cho đến thời kháng Nhật, hoặc chấp nhận bị người khác khuất phục hoặc đi khuất phục người khác. Bởi thế, nói là Trung Quốc vĩ đại, đông dân nhất trên thế giới, nhưng vẫn bị kẻ khác thống trị. Lịch sử chiến công quật cường chống xâm lược của họ là khiêm tốn.

Với cái đường lưỡi bò tự vạch ra trên Biển Đông, Trung Quốc đang bị hầu hết các nước trong khu vực phản đối.

Với cái đường lưỡi bò tự vạch ra trên Biển Đông, Trung Quốc đang bị hầu hết các nước trong khu vực phản đối.

Tôn Vũ tác giả “Binh pháp TônTử” mà người Trung Quốc rất tôn thờ, cho rằng “Một quân đội nhỏ yếu mà liều lĩnh cố đánh sẽ bị kẻ địch lớn mạnh bắt làm tù binh” và phương pháp dùng binh, “có binh lực gấp 10 lần địch thì bao vây, gấp 5 lần địch thì tiến công, gấp hai lần địch thì chia cắt, binh lực ngang nhau thì phải biết đánh, binh lực ít hơn thì phải biết lánh, binh lực yếu hơn thì phải biết tránh cho xa”.

Tư tưởng này có nhiều điều, nhưng có một điều cốt lõi cần ghi nhớ là: Đã yếu, ít, thì chịu phận làm thân cừu ngựa, chống lại chỉ có chết.

Hình như người Trung Quốc áp dụng rất triệt để điều này…cho nên, “Trung Quốc trong thời kỳ chống Nhật, vùng căn cứ địa Giao Đông chỉ có bảy, tám tên lính Nhật vác cờ mặt trời đi càn, ba bốn chục nghìn quân dân căn cứ địa bỏ chạy hết.”

Hoặc “chỉ có gần 100 lính Nhật là đủ để áp giải 50.000 tù binh của quân Quốc Dân đảng tới Yến Tử Cơ (địa danh thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) xử bắn. Chưa nói đến phản kháng, ngay đến dũng khí bỏ chạy, các tù binh này cũng chẳng có”. Hay “chỉ cần một tên Nhật thì cũng cai quản một huyện ở Trung Quốc…”

Tất cả những dẫn chứng đó, ông Trung tướng Không quân Trung Quốc Lưu Á Châu nêu ra để mô tả nét văn hóa tính cách: tê liệt ý chí phản kháng trước kẻ mạnh, sợ kẻ mạnh như cừu sợ sói.

Trong khi đó, với các nước nhỏ láng giềng, khi Trung Quốc cảm thấy mình mạnh là ý đồ bành trướng lại nổi lên, muốn đi khuất phục người khác. Với kẻ yếu, thậm chí với cả dân tộc mình thì hành xử rất ngang ngược.

Người Việt Nam thì hoàn toàn ngược lại. Không đi khuất phục kẻ khác và kiên quyết không chịu để kẻ khác khuất phục. Bởi vậy, lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam oanh liệt, có những chiến công “chấn động địa cầu” là vậy.

Ông Tôn Vũ cũng đã dạy cho con cháu quân sự Trung Quốc rằng: Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Nhưng điều này thì con cháu, hậu duệ ít ai nghe ông.

Họ chủ yếu “biết ta” và “suy bụng ta ra bụng người” mà hành động. Họ không bao giờ chịu hiểu người Việt Nam, cứ tưởng giống văn hóa tính cách của họ, cho nên, từ xưa tới nay họ hành xử chủ quan và kết quả ra sao thì lịch sử đã chứng minh quá rõ.

Người Việt Nam khác người Trung Quốc. Không cần biết ai là cọp, ai là sư tử, hể xâm lược Việt Nam là “còn cái lai quần cũng đánh”. Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đánh cho khi nào thắng thì thôi. Cho nên muôn đời, quân xâm lược nuốt Việt Nam không trôi là vậy và đương nhiên, Việt Nam mới như ngày nay.

Đường lưỡi bò”, còn gọi là “đường chữ U” hay “đường chín đoạn” được Trung Quốc chính thức đưa ra trong hai công hàm của phái đoàn thường trực nước CHDCND Trung Hoa gửi Liên Hợp quốc ngày 7/5/2009 khi phản đối Báo cáo chung Việt Nam – Malaysia và Báo cáo riêng của Việt Nam về ranh giới ngoài thềm lục địa. Bản đồ “đường lưỡi bò” đính kèm công hàm của phía Trung Quốc cho thấy nó chiếm đến 80% diện tích Biển Đông.

Phía Trung Quốc cho rằng “theo bản đồ đính kèm, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và các vùng nước liền kề, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển của các vùng.

Trước đó, dựa trên luật 1998 về vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc ban hành, năm 2002 Trung Quốc tiếp tục ban hành đạo luật cấm các nước khác khảo sát đo đạc trong EEZ.

Thực chất đây là điều mà Trung Quốc muốn biến vùng EEZ thành vùng đặc quyền quân sự mà theo đó bất kỳ tàu thuyền quân sự nào cũng không được qua lại trong vùng EEZ đó.

Như vậy, nếu khi đường “lưỡi bò” được thực thi, thì 4 quốc gia Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei chỉ cần “bước chân xuống biển” là phải xin phép Trung Quốc…

Vậy, có gì là sai khi nói rằng Trung Quốc ngang ngược, cậy lớn hiếp bé?

Trung Quốc nói, đó là “chủ quyền không thể chối cãi”, vậy tại sao lại sợ như cú sợ ban ngày, khi đưa vấn đề đó ra cho mọi người bình xử, dựa trên UNCLOS mà họ là thành viên, giải quyết theo nguyên tắc đa phương?

Phải chăng Trung Quốc chỉ muốn “cãi” nhau với từng nước riêng lẻ để dễ bề trấn áp, bắt nạt theo kiểu “ cả vú lấp miệng em”, chỉ giải quyết theo nguyên tắc song phương?

Ngày 17/5 tại Bắc Kinh, Báo Văn hối Hồng Công đã tổ chức buổi tọa đàm về vấn đề Biển Đông, gồm 6 ông tướng “văn phòng” Trung Quốc tham gia. Họ cho rằng: Đối với chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” lâu nay của Trung Quốc cần phải xem xét lại.

Đúng là phải xem lại.

Các quốc gia trong Hiệp hội ASEAN, không một quốc gia nào “cùng khai thác” với Trung Quốc cả. Tại sao vậy?

Thứ nhất, mấy ông tướng kia đưa ra vấn đề này nghe có vẻ mỵ dân Trung Quốc, đổ tội cho các nước có tuyên bố tranh chấp với Trung Quốc là thiếu tính xây dựng, hiếu chiến, “bắt nạt” Trung Quốc, trong khi Trung Quốc thì hòa bình thân thiện chìa tay ra đề nghị “gác lại để cùng khai thác”.

Thực ra, sách lược của ông Đặng còn 3 chữ đằng trước nữa là: “Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”, mà mấy ông tướng cố tình lờ đi. Nếu chấp nhận “cùng khai thác” thì có nghĩa khó có thể công nhận chủ quyền của Trung Quốc nơi khu vực đang trang chấp. Chẳng lẽ có quốc gia nào tự đưa đầu vào rọ thế sao?

Thứ hai, Trung Quốc dùng sách lược biến vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp, mà yêu sách đường “lưỡi bò” chính là hành động để thực hiện thủ đoạn trên, hù dọa, ép “cùng khai thác” thì ai nghe, ai chấp nhận cách hành xử trắng trợn ngang ngược như vậy được.

Đúng là phải xem lại, bởi đây không phải là một đề nghị mang tính hòa bình, hữu nghị, vì lợi ích chung mà một sự ép buộc, trấn áp, sau khi đã hành động ngang ngược, hù dọa dùng vũ lực, bị các nước trong khu vực lật tẩy và phản đối quyết liệt.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, “gây ra tranh chấp để cùng khai thác” có lẽ là một sách lược đúng. Trên bãi cạn Scarborough, dù Trung Quốc có coi Philipines như “con muỗi” đi nữa thì cũng không thể chiếm trọn bãi cạn ấy được, phải đi đến giải pháp “cùng khai thác” mà thôi.

Sáu ông tướng nói trên cho rằng: “Tình hình hiện nay đã thay đổi, “thế hệ chúng ta cần phải có sự đóng góp, cần phải thể hiện sự dám làm và trí tuệ”, “vấn đề Biển Đông không thể cứ kéo dài mãi. Nếu cứ để kéo dài, rất có khả năng Trung Quốc sẽ mất đi chủ quyền đối với một diện tích lớn tại Biển Đông, mất đi cơ nghiệp của tổ tông, trở thành “thiên cổ tội nhân” của dân tộc Trung Hoa”…

Quả thật, tướng “văn phòng” nói hay và chỉ huy tác chiến trên…”văn phòng” và trên CCTV giỏi thật. Các tướng chỉ huy, tham mưu Trung Quốc thực thụ, nghe được không nổi cáu lên mới chuyện lạ.

Trung Quốc chuẩn bị ‘đánh úp’ biển Đông (P2)?

Những sự kiện tranh cãi gần đây tại biển Đôngbiển Hoa Đông giữa Trung Quốc và các láng giềng cho thấy Bắc Kinh “chứng nào tật ấy”, không bao giờ ngừng các hành động khiêu khích, thậm chí, có khả năng họ triển khai các cuộc tấn công bất thình lình trong các vùng lãnh hải tranh chấp.

>> Trung Quốc chuẩn bị ‘đánh úp’ biển Đông (P1)?

Ầm thầm chuẩn bị tấn công bất thình lình?

Theo các báo cáo thăm dò và khảo sát của phương Tây và các quốc gia trong khu vực, Tây Thái Bình Dương chứa trữ lượng dầu và khí đốt vô tận. Trữ lượng tài nguyên ở khu vực này, trong các báo cáo thăm dò của Trung Quốc thậm chí, luôn cao hơn bất cứ báo cáo nào khác. Do đó, Bắc Kinh cho rằng nếu có thể kiểm soát được khu vực này, họ sẽ không phải đau đầu bận tâm về việc làm thế nào để thỏa mãn cơn thèm năng lượng của nền kinh tế, và do đó, vấn đề an ninh năng lượng sẽ được đảm bảo. Theo ước tính của Trung Quốc, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ở Tây Thái Bình Dương có thể đủ cho Trung Quốc “dùng xả láng” trong hơn 60 năm.

Với khoản tiền “khủng” theo các tuyên bố chính thức là 100 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng năm 2012 (nhiều nhà phân tích khẳng định con số thực còn cao hơn rất nhiều), Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đang nỗ lực gia tăng sức mạnh và các khả năng cần thiết để các yêu sách liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và vấn đề an ninh năng lượng của Trung Quốc được đảm bảo và được tôn trọng.

Trung Quốc không tiếc "tiền tấn" hiện đại hóa quân đội. Ảnh minh họa: CNBC.

Trung Quốc không tiếc "tiền tấn" hiện đại hóa quân đội. Ảnh minh họa: CNBC.

Các thành tựu đáng kể trong công cuộc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc được thể hiện thông qua các tên lửa đạn đạo chống hạm mới – có khả năng buộc Mỹ phải suy nghĩ thận trọng trước khi quyết định đưa lực lượng vào giải cứu các đồng minh trong khu vực trong trường hợp một cuộc chiến giữa Trung Quốc và họ bùng lên.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng không tiếc tiền của đầu tư mở rộng kho máy bay chiến thuật mặt đất và các tên lửa hành trình có cánh đối hạm chưa kể lực lượng tàu chiến và tàu ngầm hạt nhân cũng được chú trọng phát triển.

Không thể không kể đến sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng tàu khu trục hải quân tàu đổ bộ mới cũng như các trực thăng mẫu hạm có khả năng chở hàng nghìn hải quân Trung Quốc nhanh chóng đổ bộ tới các hòn đảo tranh chấp.

Không dừng lại ở đó, nếu không có gì thay đổi, tháng 8 năm nay, Bắc Kinh sẽ đưa tàu sân bay đầu tiên mang tên Thi Lang vào hoạt động – gia tăng đáng kể sức mạnh hải quân của Trung Quốc.

Trong khi đó, hàng loạt các bài bình luận trên các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, đáng chú ý nhất là tờ Global Times – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, khái niệm về “các cuộc chiến quy mô nhỏ” gia tăng kể tăng kể từ năm 2011.

Đáng chú ý, đầu tháng ba vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố quân đội Trung Quốc cần chuẩn bị tốt hơn cho các “cuộc chiến tranh cục bộ”.

Từ những dấu hiệu trên, hàng loạt các chuyên gia trong một bài phỏng vấn với Asia Times nhấn mạnh rằng tương lai, Trung Quốc có thể phát động các cuộc tấn công quân sự giới hạn.

Theo Steve Tsang, Giám đốc Viện chính sách Trung Quốc thuộc ĐH Nottingham, tin rằng Trung Quốc có thể khởi động một cuộc chiến bất thình lình và quy mô nhỏ nhằm vào Philippines và Việt Nam.

“Khởi động cuộc chiến chống lại Việt Nam chỉ làm an ninh ở Đông Nam Á và Đông Á bất ổn hơn. Trung Quốc không dễ chiến thắng Việt Nam. Dù vậy, họ rất có thể phát động một cuộc chiến như thế”, ông Steve Tsang nhấn mạnh.

Ông Tsang cảnh báo, tấn công Việt Nam hoặc Philippines sẽ đẩy các quốc gia ASEAN đến chỗ phải tìm đến Mỹ cầu viện.

Tuy nhiên, ông Tsang nhấn mạnh, Hàn Quốc sẽ không phải là mục tiêu bất chấp các cuộc chiến ngôn từ gần đây với Trung Quốc sau vụ một quan chức Viện Hải Dương học nước này tuyên bố bãi đá ngầm Ieodo chắc chắn là một phần lãnh hải thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

“Việc Trung Quốc tính chuyện triển khai hoạt động quân sự chống lại Hàn Quốc là quá nguy hiểm và không được bất cứ ai khoan dung. Mỹ có vai trò rất lớn ở đây và sẽ ngay lập tức gây áp lực lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để ra một lệnh ngừng bắn”, ông Tsang tuyên bố thêm.

Trong khi đó, James Holmes, một Phó Giáo sư nghiên cứu Chiến lược của Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ nhận định Bắc Kinh có thể sẽ thành công nếu tấn công Philippines.

“Bắc Kinh sẽ khởi động bất cứ cuộc chiến tranh quy mô nhỏ nào khi có thể. Sức mạnh quân sự vượt trội của họ dựa trên các loạt vũ khí như tên lửa đạn đạo chống hạm sẽ mang lại ưu thế cho Trung Quốc trong suốt cuộc chiến”, ông Holmes giải thích.

Như vậy, rất có thể trong tương lai, biển Đông sẽ lại dậy sóng bởi các cuộc tấn công bất thình lình và quy mô nhỏ của Trung Quốc.

Trung Quốc chuẩn bị ‘đánh úp’ biển Đông?

10/04/2012 2 comments

Những sự kiện tranh cãi gần đây tại biển Đông và biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và các láng giềng cho thấy Bắc Kinh “chứng nào tật ấy”, không bao giờ ngừng các hành động khiêu khích, thậm chí, có khả năng họ triển khai các cuộc tấn công bất thình lình trong các vùng lãnh hải tranh chấp.

Lùi một bước để tiến ba bước?

Các tranh chấp lãnh thổ gay gắt giữa Trung Quốc và các láng giềng ở biển Đông và Hoa Đông từ lâu trở thành chủ đề nóng và thu hút sự chú ý không nhỏ từ công chúng. Gần như tất cả các quốc gia trong khu vực và con rồng châu Á đều có những “vụ lùm xùm, ầm ĩ” liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, từ Hàn Quốc và Nhật Bản cho tới Philippines và Việt Nam.

Muốn ổn định nội, ngoại để chuyển giao thế hệ lãnh đạo diễn ra suôn sẻ đồng thời, tống khứ Mỹ khỏi châu Á – Thái Bình Dương và xóa bỏ hình ảnh “xấu xí” của mình đối với các quốc gia trong khu vực, Trung Quốc tỏ ra mềm mỏng, linh hoạt hơn trong các vấn đề tranh chấp lãnh hải trong khu vực.

Trung Quốc đang thay đổi thay đổi cách tiếp cận, tỏ ra mềm mỏng linh hoạt hơn trong các vấn đề tranh chấp lãnh hãi tại biển Đông? Ảnh minh họa: China Daily.

Trung Quốc đang thay đổi thay đổi cách tiếp cận, tỏ ra mềm mỏng linh hoạt hơn trong các vấn đề tranh chấp lãnh hãi tại biển Đông? Ảnh minh họa: China Daily.

Một bài bình luận mới đây đăng trên Tạp chí Foreign Affairs của Mỹ nhận xét, Trung Quốc đang trở nên ôn hòa hơn, mềm dẻo và linh hoạt hơn trong các vấn đề liên quan đến biển Đông.

Sự thay đổi phương pháp tiếp cận của Bắc Kinh đến từ tháng 6 năm ngoái, được đánh dấu bởi sự kiện Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn của Việt Nam với tư cách là Đặc phái viên của Chính phủ Việt Nam sang Trung Quốc để hội đàm về các vấn đề tranh chấp lãnh hải giữa hai nước.

Ngay sau đó, Trung Quốc và mười thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đàm phán thành công và bàn việc triển khai Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), liên quan trực tiếp đến các tranh chấp lãnh hải ở biển Đông ứng xử một cách hợp lý dựa trên các nguyên tắc và luật lệ quốc tế hồi tháng 7/2011.

Đồng thời, đầu năm nay, Trung Quốc cũng có ý định triệu tập các hội thảo về hải dương học và tự do hàng hải ở biển Đông và muốn đối thoại với các quan chức cao cấp ASEAN để thảo luận về việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử biển Đông năm 2002.

Đáng chú ý là, các quan chức cấp cao hàng đầu của Trung Quốc – Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo – từng nhiều lần đề cập đến việc thực thi Bộ nguyên tắc chỉ đạo giải quyết các xung đột lãnh hải của Trung Quốc của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình. Theo đó, các bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp lãnh hải trên biển Đông gác lại những yêu sách chủ quyền của mình và cùng khai thác nguồn tài nguyên hàng hải.

Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Quốc vẫn chứng nào tật ấy. Chỉ tính riêng tháng ba vừa qua, xảy ra hàng loạt các sự cố liên quan đế tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực. Như tranh cãi nảy lửa giữa Bắc Kinh và Seoul liên quan đến bãi đá ngầm Iedo dẫn đến việc Hàn Quốc tuyên bố xây dựng nhiều căn cứ hải quân mới trên đảo Baeknyeong và Heuksan để đối phó với các hoạt động xâm nhập trái phép của tàu cá Trung Quốc.

Bắc Kinh cũng đụng độ với Manlila liên quan đến kế hoạch xây cầu cảng nhằm “phát triển du lịch” ở đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa và tranh cãi với Hà Nội liên quan đến các động thái thăm dò dầu khí của Việt Nam và các đối tác – các tập đoàn dầu khí quốc tế – ngoài khơi xung quanh vùng lãnh hãi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Thậm chí, tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ dừng lại như là cuộc chiến ngôn từ. Trung Quốc không ít lần bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam một cách trái phép, chẳng hạn, vụ hai tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam thuộc huyện đảo Lý Sơn bị Trung Quốc bắt vào ngày 3/3 vừa qua tại vùng biển Hoàng Sa và bị giam giữ từ đó đến nay.