Lưu trữ

Posts Tagged ‘Đàn áp tôn giáo’

Đa đảng? Việt Nam sẽ chết ngay tức khắc!

dang-cong-san-viet-namGần đây, không mà có lẽ từ lâu rồi, luôn luôn có tranh cãi giữa nhiều phe phái về việc “nên đa đảng hay độc đảng”. Vậy tại sao tôi viết bài này, có 2 lý do:

Một là, tôi viết bài này không phải để cảnh tỉnh những người thích đa đảng, hay muốn chống cộng, xuyên tạc, phá hoại đất nước. Bởi lẽ không phải họ ngu, mà họ cố tình ngu như thế và giả vờ là đấy là cách hay cho đất nước. Tôi viết bài này để cho những ai thực sự không hiểu sự nguy hiểm tiềm tàng đằng sau chữ “đa đảng”, tôi viết cho những ai không biết tí ti gì về chính trị hết, hay những ai thực sự muốn phân tích thiệt hơn của đa đảng so với độc đảng.

Xem chi tiết…

Thực chất cái mà Mỹ gọi là vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Nhà Trắng luôn cáo buộc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ, đàn áp dân tộc tôn giáo. Mĩ luôn đưa Việt Nam vào danh sách các nước vi phạm nhân quyền, cần được Mĩ quan tâm đặc biệt. Đặc biệt tối ngày 11/9/2012, Nhà Trắng đã thông qua cái gọi là Dự luật Nhân quyền ở Việt Nam, tiếp tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ. Đây chính là những luận điệu tuyên truyền, vu khống trắng trợn của chính quyền Mĩ đối với Nhà nước Việt Nam.

> Thóa mạ Việt Nam khi nói ‘Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam’Lại trò ‘Ảo thuật ngôn từ’Bằng chứng tội ác tố cáo vi phạm nhân quyền của quân đội Hoa Kỳ

Biếm họa về nhân quyền kiểu Mỹ

Biếm họa về nhân quyền kiểu Mỹ

Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện tốt các chính sách nhằm đảm bảo triệt để quyền tự do dân chủ, bình đẳng dân tộc, tự do tôn giáo của toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được quy định cụ thể trong hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Nhà nước Việt Nam đảm bảo thực hiện nghiêm minh. Những chính sách tiến bộ về dân tộc, tôn giáo đã được triển khai thực hiện sâu rộng trên toàn quốc, phát huy những hiệu quả to lớn, góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Những bằng chứng thực tế đều chứng minh rằng Việt Nam hoàn toàn không hề vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, bình đẳng dân tộc.

Tuy nhiên, Mĩ vẫn không ngừng cáo buộc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo. Đây là những tuyên bố phi lí và còn ẩn chứa đầy mâu thuẫn trong khi chính trong nội bộ nước Mĩ lại đang tồn tại những vấn đề về nhân quyền. Có thể đưa ra những so sánh đơn giản về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và Mĩ để thấy rõ những mâu thuẫn trong tuyên bố của Mĩ.

Thứ nhất, theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào HĐND. Điều này đảm bảo quyền làm chủ đất nước thuộc về toàn thể nhân dân, người dân có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Trong khi đó, theo luật pháp nước Mĩ, chỉ những người nào có một lượng tài sản nhất định mới được quyền bầu cử và ứng cử. Theo một thống kê thì tại Mĩ, 1% dân số Mĩ nắm giữ 99% tài sản nước Mĩ và 99% dân số còn lại chỉ sở hữu 1% tài sản quốc gia. Vậy thì có thể thấy rằng quyền làm chủ đất nước Mĩ sẽ rơi vào tay 1% dân số Mĩ đang nắm giữ khối lượng tài sản lớn, 99% dân số còn lại hoàn toàn không có quyền quyết định công việc đất nước. Vậy Mĩ dân chủ hay Việt Nam dân chủ?

Thứ hai, Việt Nam luôn duy trì chính sách tự do tôn giáo. Mọi tôn giáo đều được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện phát triển, đều bình đẳng như nhau. Trong những năm gần đây, nhiều những trung tâm phật giáo, thiền viện phật giáo, giáo đường Thiên chúa giáo được tu bổ, mở rộng, hoặc xây dựng mới. Nhà nước cùng tiếp tục duy trì chính sách đoàn kết tôn giáo, cùng chung tay xây dựng đất nươc được toàn thể nhân dân hưởng ứng. Trong khi đó, tại Mĩ, với sự duy trì chính sách thù địch với Hồi giáo chính là nguyên nhân gây nên vụ khủng bố 11/9 của những phần tử Hồi giáo cực đoan. Đồng thời những cuộc chiến tranh của Mĩ tại Trung Đông cũng đã khiến thế giới Hồi giáo thực sự bức xúc. Điều này cũng đủ so sánh Việt Nam tôn trọng tôn giáo hay Mĩ tôn trọng tôn giáo.

Thứ ba, Việt Nam luôn duy trì chính sách bình đẳng dân tộc. Mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều bình đẳng, không phân biệt đối xử. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến sự phát triển của các dân tộc, tạo điều kiên thuận lợi để bà con dân tộc thiểu số nâng cao chất lượng cuộc sống, theo kịp sự phát triển của người kinh. Trong khi đó, tại Mĩ, vẫn còn đâu đây những tàn dư của chế độ phân biệt chủng tộc A-pac-thai. Những hình ảnh binh sĩ Mĩ ngược đãi, hành hạ dã man tù binh Ap-ga-nixtan, Irắc… đã gây lên sự bất bình to lớn của toàn thể loài người tiến bộ. Rồi việc duy trì nhà tù wan-ta-la-mo với những hành vi tra tấn, hành hạ tù nhân chính là những bằng chứng cho việc vi phạm nhân quyền của Mĩ. Vậy Việt Nam vi phạm quyền bình đẳng dân tộc hay là chính Mĩ đang vi phạm nhân quyền.

Từ những so sánh đơn giản trên, chúng ta có thể thấy rõ một điều: Nhà Trắng đang vu cáo Việt Nam nhưng điều mà chính Nhà Trắng đang mắc phải. Phải chăng là do tư tưởng chủ nghĩa nước lớn mà Mĩ đã tự cho mình cái quyền áp đặt những đánh giá chủ quan phiến diện của mình lên một quốc gia? Phải chăng, dựa vào cái gọi là học thuyêt Nhân quyền cao hơn chủ quyền mà Mĩ đã và đang tìm cách dựa vào vấn đề Nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam? Và phải chăng, bằng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, Mĩ đã và đang tiến hành phá hoại tư tưởng Việt Nam, thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình thâm độc của mình?

Nhưng nước Mĩ đâu biết rằng những việc làm của mình đã và đang vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và gây nên những bức xúc sâu sắc cho loài người tiến bộ và cả trong chính nội bộ nước Mĩ. Sau khi Nhà Trắng thông qua cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam, Hạ nghị sĩ Eni Faleomavaega đã khẳng định đây là một bước đi lạc hướng của chính phủ Mĩ. Ông nói: “Nếu họ (Hạ viện Mĩ) thật lòng quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy giúp Việt Nam là sạch hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mĩ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1971 bởi việc để lại khối hoá chất độc hại này ở Việt Nam là sự vi phạm nghiêm trọng về quyền con người”.

Một dự luật được Hạ viện Mĩ thông qua mà ngay chính thành viên của Hạ viện đó đưa ra ý kiến phản đối một cách quyết liệt đủ thấy sự thiếu khách quan trong việc thông qua dự luật này. Và Nhà Trắng thực sự nên xem xét lại về cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam khi đã có những dấu hiệu thiếu khách quan, thiếu bằng chứng trong nó.

Blog Việt Nam ngày về

Thóa mạ Việt Nam khi nói ‘Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam’

Đã thành “thông lệ” mỗi khi Việt Nam đạt được một thành tựu nào trên các phương diện đối ngoại mang tính toàn cầu trên trường quốc tế thì các cá nhân, tổ chức có sẵn định kiến, hiềm thù với Việt Nam lại khởi động những bài “tụng kinh” rên rỉ hoà cùng với các mõ làng truyền thông với gương mặt “cũ mèm”, ra rả tung hứng trên các phương tiện truyền thông. 

Điển hình là ngày 28-8-2012 mõ làng VOA đã có bài phỏng vấn “nóng hổi” với ông giáo sư Allen Weiner của Trường Luật đại học Stanford với giật tít – “Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam”, sau khi có bài của ông ta đăng trên tờ Washington post ngày 26-8-2012.
Trong cuộc phỏng vấn với VOA, điều tất nhiên là mõ làng VOA sẽ khai thác triệt để theo ý đồ của họ một khi đối tượng là người đồng “quan điểm”, cùng “chí hướng”. Ông Allen Weiner trình bày rằng – “thực trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam với các vụ bắt bớ những nhà hoạt động, những người bất đồng chính kiến và cho rằng Hoa Kỳ không nên phát triển các mối quan hệ thương mại sâu hơn với VIệt Nam mà không cùng lúc thúc đẩy Hà Nội phải tôn trọng các cam kết của họ với quốc tế về tôn trọng nhân quyền.” Và ông Weiner nói tiếp: “Hoa Kỳ không nên tưởng thưởng cho chính quyền Hà Nội bằng cách đồng ý để cho Việt Nam vào Đối tác Xuyên Thái Bình Dương trong khi mà Hà Nội vẫn tiếp tục sử dụng các luật lệ mơ hồ của họ để bóp nghẹt những tiếng nói bất đồng và vi phạm nhân quyền của công dân”.

Không hiểu có phải vì từ trước đến nay có những cá nhân mà trong môi trường hoạt động của họ thuộc hệ “chìm lắng” không có cơ hội để thể hiện cái “ta đây” mà mốt thời thượng hiện nay là “chơi nổi”, thích “đánh bóng” sau tháng năm dài ở trong góc tối chẳng ai đoái hoài. Ông giáo sư Allen Weiner lại “phán” ra những điều hết sức chủ quan và vô căn cứ đến vậy. Tôn trọng nhân quyền là quan tâm, chăm lo, tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần của mỗi người dân mà Đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã và đang nỗ lực để mỗi người có thể thực hiện đầy đủ những quyền cơ bản đó. Một xã hội phát triển toàn diện là xã hội thực sự tôn trọng nhân quyền, đề cao quyền con người, đó là mục tiêu phấn đấu và ngày càng hoàn thiện trên con đường xây dựng một nước Việt Nam XHCN văn minh cùng nhân loại. Ông Allen Weiner đã cố tình bẻ cong sự thật về những gì đang diễn ra ở Việt Nam theo chiều hướng khác, ông đã cùng hội cùng thuyền với các thế lực không có thiện cảm với Việt Nam, dùng thủ đoạn “diễn biến” với vũ khí mang tên “nhân quyền” công kích một nhà nước mà dưới con mắt của các vị là “cái gai” cần nhổ.

Với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, núp dưới danh nghĩa những “nhà nhân quyền”, “nhà dân chủ”… các vị luôn ra sức cổ võ, ủng hộ cho “tự do nhân quyền”, “tự do ngôn luận”… Vậy thực chất của cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là gì? Đây là luận điểm vì con người hay chỉ là một “ngón đòn chính trị” của kẻ thù? – Nhân dân Việt Nam có đầy đủ bản lĩnh, trí tuệ thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đó là mưu đồ xấu xa nhằm làm rối loạn xã hội, “đục nước béo cò”.

Nhà nước Việt Nam hiểu rằng: nhân quyền cũng đồng nghĩa với quyền con người, là những quyền cơ bản của con người: quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do đi lại và cư trú, tự do hội họp và lập hội, quyền sở hữu, quyền tham gia chính quyền, quyền được hưởng giáo dục, hưởng bảo vệ sức khoẻ v.v.. Tôn trọng nhân quyền là quan tâm, chăm lo, tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần để mỗi người có thể thực hiện đầy đủ những quyền cơ bản đó – Chính vì lẽ đó nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng chính phủ nỗ lực không ngừng, vượt qua bao nhiêu khó khăn đúng lên từ đống tro tàn của chiến tranh tàn khốc do người Mỹ gây ra, cắn răng chịu đựng đòn thù cấm vận hơn 20 năm, cả nước đồng cam cộng khổ không chịu quỳ gối trước sự ép buộc vô nhân đạo của các thế lực nước lớn,đó là một cách trả lời kiêu hãnh nhất về nhân quyền.

Một xã hội phát triển toàn diện là xã hội thực sự tôn trọng nhân quyền, đề cao quyền con người,lịch sử phát triển nhân loại đã cho thấy, nhân quyền luôn là vấn đề được đề ra trong nhiều xã hội song không phải xã hội nào cũng quan tâm bảo đảm nhân quyền một cách tuyệt đối. Thử nhìn lại nước Mỹ và những nước tư bản chủ nghĩa, vi phạm nhân quyền, chà đạp quyền con người, tội ác ngày càng gia tăng, sinh mạng con người bị tước đoạt tàn nhẫn với những vụ xả súng giết người hàng loạt. Điều này chắc ngài đã biết ?-Theo số liệu của FBI mỗi năm ở Mỹ có tới 30.000 người bị chết do các vụ bạo lực có liên quan đến súng. Mới đây Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền thế giới năm 2011 trong khi có ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam….

Trả lời câu hỏi của VOA về17 nhà hoạt động Công giáo trẻ có liên hệ với Dòng Chúa Cứu Thế bị bắt vì bị tố cáo vi phạm các điều luật như ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ và tuyên truyền chống nhà nước”

Ông Weiner nói- “đề nghị các giới chức Mỹ nên yêu cầu Việt Nam nên bắt đầu bằng việc phóng thích 17 nhà hoạt động Công giáo trẻ bị bắt giữ từ năm ngoái và những nhà tranh đấu nhân quyền khác bị giam cầm chỉ vì đã tìm một tiếng nói cho tương lai của đất nước”.

ông Weiner vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch khi đánh giá một sự việc trên những thông tin mù mờ, phiến diện. Những dẫn chứng để đưa ra đánh giá về cái gọi là “giam cầm” là hoàn toàn vu khống,sai lệch với bản chất sự việc, phát biểu nói trên vẫn không có gì khác hơn “thầy bói mù xem voi”- việc một số đối tượng phạm tội hình sự, bị các cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam điều tra, truy tố, xét xử, tuyên các bản án hình sự theo quy định pháp luật.Việc đánh giá tự do tôn giáo phải dựa trên tình hình khách quan về đời sống tôn giáo ở một quốc gia, vùng, lãnh thổ, bao gồm cả đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần. Tự do tôn giáo không thể bị đánh lận với một số đối tượng lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phạm pháp, bị điều tra, truy tố, xét xử. Hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau. Khi phạm một tội quy định trong Bộ luật Hình sự, thì dù công dân đó theo hay không theo tôn giáo nào đều chịu sự trừng phạt của pháp luật một cách bình đẳng.

Luật pháp bất kỳ quốc gia nào cũng nhằm bảo vệ thể chế chính trị của quốc gia đó, nhóm người xâm phạm an ninh quốc gia, chống chính quyền nhân dân, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gây rối… bạo động..v..v đều bị coi là tội. Luật pháp Việt Nam cũng quy định các điều luật trong Bộ luật Hình sự trên quan điểm pháp lý đó. Ngay tại Hoa Kỳ mà họ tự mệnh danh là “thiên đường tự do” cũng quy định rất rõ ràng hành vi gây rối chống chính quyền và chế tài xử phạt rất nghiêm khắc, chắc ông Weiner cũng đã biết các quan toà đã xử tội bảy thành viên nhóm Hutaree có hành vi chống lại chính quyền ở tiểu bang Michigan, nhóm này đã lên kết hoạch giết viên cảnh sát sau khi họ đã tấn công một đám tang bằng vũ khí, họ xưng danh là “chiến binh thiên chúa giáo” họ đang thực thi theo ý chúa các quyền tự do? Nước Mỹ khi họ đã xưng danh trên thế giới là họ bảo đảm tự do tôn giáo nhưng họ cũng tách biệt rõ ràng về việc lợi dụng tôn giáo chống chính quyền, vi phạm pháp luật sẽ bị trừng phạt, vậy những kẻ có hành vi vi phạm pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam bị trừng phạt thì ông Weiner và các tổ chức khác lại hùa theo các mõ làng như VOA xuyên tạc, vu khống với giọng điệu nhàm tai “đàn áp tôn giáo”? Sự thật luôn là sự thật, dù có léo lận vì mục đích gì đi chăng nữa lẽ phải luôn thuộc về chính nghĩa.

Houston ngày 28-8-2012

AMARIT TX (WORDPRESS)

Tự do tôn giáo ở Việt Nam – Sự thật không thể xuyên tạc

12/07/2012 2 comments

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi thủ đoạn thâm độc. Trong đó, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo là một thủ đoạn mà chúng thường dùng.

Đại lễ rước, cung nghinh xá lợi Đức Phật lớn nhất Việt Nam (nguồn: vtv.vn)

Đại lễ rước, cung nghinh xá lợi Đức Phật lớn nhất Việt Nam (nguồn: vtv.vn)

Đã trở thành thông lệ, cứ đến dịp tháng 3, tháng 9, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại tự cho mình cái quyền công bố báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở các nước trên thế giới. Các tổ chức nhân quyền, các phương tiện thông tin của Mỹ và các nước phương Tây được dịp phụ họa, “tát nước theo mưa” tuyên truyền rùm beng về cái gọi là “vi phạm các quyền con người”, “quyền tự do tôn giáo trên thế giới”; trong đó, Việt Nam là một trong những nước bị chỉ chích nặng nề. Không có gì mới lạ trong các luận điệu chỉ trích về vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo của Mỹ và phương Tây đối với nước ta và các nước trong nhiều năm qua. Vẫn giọng điệu của một kẻ kiêu căng, trịch thượng; vẫn một thái độ áp đặt, thiên kiến chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Vậy mục đích của các nhà “dân chủ” Mỹ và phương Tây ở đây là gì? Phải chăng là vì quyền con người, vì đối thoại xây dựng? Những hành động thực tế của họ đã cho câu trả lời là không! Nói một cách rõ ràng hơn, thực chất là họ lợi dụng nhân quyền, tự do tôn giáo như một công cụ chính trị nhằm bôi đen, hòng xóa bỏ chế độ chính trị ở các nước không thân thiện, gây áp lực để bảo vệ lợi ích và sự thống trị toàn cầu của Mỹ.

Chúng ta đều biết, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Điều 18 trong Tuyên ngôn nhân quyền toàn thế giới năm 1948 và được phát triển đầy đủ hơn trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc. Theo đó, mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; không một ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo, một tín ngưỡng; quyền tự do thực hành tôn giáo, tín ngưỡng có thể bị giới hạn… Như vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có giới hạn. Sự giới hạn đó là cần thiết nếu việc thực hiện quyền này xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và tự do cơ bản của người khác. Nói cách khác, ở tất cả các nước, các loại hình tổ chức tôn giáo đều được tự do hoạt động nhưng phải trong giới hạn của hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi hoạt động tôn giáo gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức và các quyền của người khác…, đều bị cấm và nghiêm trị theo pháp luật. Những tổ chức hoạt động mê tín dị đoan, giả danh tôn giáo, giáo phái cực đoan đều không được thừa nhận có tư cách và quyền như một tôn giáo. Hầu hết các quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều ghi nhận và thực hiện quyền này trong hiến pháp, pháp luật của mình.

Đối với nước ta, Điều 70 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 11-5-2005 của Chính phủ và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, “sống tốt đời, đẹp đạo”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam, các thế lực thù địch trong và ngoài nước mưu toan phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ các tôn giáo, chia rẽ người có đạo và người không có đạo. Chúng xuyên tạc, vu cáo, bôi đen tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam; tung ra nhiều luận điệu xằng bậy: “ở Việt Nam không có tự do tôn giáo”, Đảng Cộng sản “vô thần” chủ trương xóa bỏ tôn giáo. Gần đây, khi một số đối tượng lợi dụng tự do tôn giáo để hoạt động chống phá chính quyền, vi phạm pháp luật, bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý theo quy định của pháp luật thì họ tìm cách xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “bắt giam các nhà tu hành vì lý do tôn giáo”, v.v.

Quan điểm nhất quán của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo đã khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo đã xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân các tôn giáo trong việc quản đạo, hành đạo, truyền đạo; nơi thờ tự của các tôn giáo được Nhà nước bảo hộ; việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo được quy định cụ thể và hết sức rõ ràng, theo hướng tích cực cải cách thủ tục hành chính về thời gian, trình tự thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo hoạt động. Không chỉ được thể hiện bằng các quan điểm, chính sách mà trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân, của mọi tổ chức tôn giáo chân chính với hàng chục triệu tín đồ trên cả nước luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển. Ở Việt Nam, không có bất kỳ ai bị bắt, giam giữ hoặc kiểm soát, truy bức vì lý do tôn giáo; những người theo tín ngưỡng, tôn giáo được tự do sinh hoạt, thờ cúng, tiến hành các nghi lễ tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Đó là sự thật không thể chối cãi, phủ nhận và trên thực tế đã và đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên dải đất hình chữ “S”.

Song, thật nực cười là họ lại không thấy những điều mà ai cũng thấy, hoặc thấy nhưng phớt lờ những chính sách đúng đắn và nỗ lực của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo. Liên tiếp nhiều năm qua, ở nước ngoài, một số nghị sĩ tại Hạ viện Hoa Kỳ luôn thể hiện thái độ, quan điểm cực đoan, thiếu công bằng để “đánh giá” vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ luôn đưa ra đòi hỏi ngang ngược, vô lối nhằm kích động, hà hơi tiếp sức cho một số công dân Việt Nam lợi dụng vỏ bọc “hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo” để vi phạm pháp luật. Thậm chí họ còn lên án, đòi Chính phủ ta “công nhận” các tổ chức tôn giáo giả hiệu, như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Tin lành Đề Ga và can thiệp đòi thả các “tù nhân tôn giáo”. Đặc biệt vừa qua, trong “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” do ông Cơ-rít Xi-mít, nghị sĩ Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ) là tác giả đã vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, trong đó có quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo và kiến nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Đây là những luận điệu đầy định kiến, một chiều, xuyên tạc, không khách quan, vô căn cứ của các tổ chức nhân quyền nước ngoài. Họ đã cố tình không nhận ra rằng, sau hơn 25 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt; trong đó, quyền con người, quyền tự do tôn giáo được bảo đảm ngày một tốt hơn; các tôn giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, thì đến nay đã có 12 tôn giáo và 37 tổ chức tôn giáo với trên 20 triệu tín đồ, chiếm 25% dân số cả nước. Điều đó chứng tỏ sự phát triển của các tôn giáo ở Việt Nam là tốt đẹp và luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Hiện nay, cả nước có gần 100.000 chức sắc tôn giáo, trên 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều công trình được trùng tu, xây mới. Tính riêng hai năm 2010 và 2011 đã có gần 500 công trình tôn giáo được xây mới, hơn 600 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học, như: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo và các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Hoạt động báo chí, in ấn, xuất bản trong lĩnh vực tôn giáo được đẩy mạnh, riêng Nhà xuất bản Tôn giáo đến nay đã xuất bản hơn 4.000 đầu sách với số lượng hàng chục triệu bản. Sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện ở nhiều sự kiện, hoạt động tôn giáo sôi động. Năm 2011, Lễ Bế mạc Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo Việt Nam được tổ chức long trọng tại giáo sứ La Vang, tỉnh Quảng Trị; Đại lễ kỷ niệm 72 năm khai sáng đạo Phật giáo Hòa hảo; Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; Đại hội Giới trẻ giáo tỉnh Hà Nội lần thứ IX với sự tham gia của hơn 2 vạn bạn trẻ Công giáo đến từ 10 giáo phận, 26 tỉnh, thành phố thuộc giáo tỉnh Hà Nội…, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không phủ nhận rằng, hoạt động tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo vẫn còn bất cập, hạn chế ở một vài địa phương trong một số vụ, việc cụ thể; nhưng về cơ bản, lãnh đạo các chức sắc tôn giáo tại Việt Nam và đông đảo những người có lương tri trên thế giới đến thăm Việt Nam đều thừa nhận những thành tựu to lớn của nước ta trên lĩnh vực tôn giáo. Ông Nguyễn Cao Kỳ – một người từng làm Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn – khi về thăm Việt Nam, chứng kiến sự thật đã thốt lên rằng: “Không phải riêng tôi, mà cả trăm, nghìn Việt kiều về thăm quê hương đều thấy chùa chiền được xây cất ngày càng nhiều, người đi chùa, đi nhà thờ đông nghìn nghịt, hoàn toàn không có sự cấm đoán. Nếu mà nói về tự do tôn giáo thì thật sự có tự do, không ai có thể chối cãi được”. Năm 2009, Đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do Phó Chủ tịch M.L Cro-ma-ti dẫn đầu đến thăm và làm việc tại Việt Nam đã nhận xét: “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ”. Có thể dẫn câu nói của cựu Đại tá Mỹ An-đrê Xau-va-gốt từng tham chiến tại Việt Nam, Cố vấn Hội đồng Thương mại Mỹ – Việt thay lời kết: “Với tư cách là người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam đã lâu, tôi hoàn toàn không đồng ý với bản báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tự do tôn giáo ở Việt Nam… Tôi khẳng định rằng, những người bị bắt tại Việt Nam không bao giờ vì lý do tôn giáo, mà là vì vi phạm pháp luật của chính đất nước đã nuôi dưỡng họ. Tôi nghĩ, một số thành phần thù địch ở Mỹ cố tình xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam mà không hiểu thực tế vì chưa bao giờ họ đặt chân đến Việt Nam, chỉ nghe lời xuyên tạc và đi theo một cách mù quáng”.

TS. NGUYỄN ĐỨC THÙY

Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh