Lưu trữ

Posts Tagged ‘Phạm Văn Đồng’

Hoàn Cầu Thời Báo: Việt Nam là thù địch

Trong bài viết có tựa đề “Năm 1956 Thủ tướng Việt Nam từng thừa nhận các đảo ở Nam Hải thuộc Trung Quốc” của tác giả Tôn Lực Châu”, thời báo Hoàn Cầu nói thẳng rằng: “Thực ra, Trung Quốc và Việt Nam lúc này (tức là sau chiến thắng 30-4 của Việt Nam) không còn là mối quan hệ “đồng chí anh em” ở thập niên 50. Đã từ lâu, xung đột biên giới trên đất liền, Hoa kiều Việt Nam bị bức hại, tranh chấp vùng biển Vịnh Bắc Bộ… làm cho hai nước dần đi vào thế thù địch”.

>> Không tồn tại cái gọi là ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’ / Thời báo Hoàn Cầu: Bịa đặt và kích động

Bài báo tập trung đưa ra những câu nói của người này, người khác, báo này báo nọ để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Chứng cứ pháp lý đâu phải vài câu nói hay vài câu trên báo? Đây là sự lu loa cố tình “tầm chương trích cú”, không xem xét văn cảnh, bối cảnh các câu nói, các bài viết mà tìm cách lọc ra một vài câu, một số chữ có lợi, rồi lu loa bẻ cong sự thật, dựng đứng chuyện và ngụy tạo để vơ lấy hai quần đảo lớn trên biển Đông nằm trong “Đường Lưỡi Bò” do Trung Quốc vẽ ra với chủ đích đầy tham vọng bành trướng. Thời báo Hoàn Cầu đã công khai coi Việt Nam là địch, trong khi đó nhà cầm quyền Trung Nam Hải vẫn cứ rêu rao “16 chữ vàng”, quan hệ hai nước Việt – Trung trên tình thần “4 tốt”. Vậy là Thời báo Hoàn Cầu đã quá “phạm thượng”, đi vả vào miệng các quan chức lãnh đạo chóp bu ở Trung Nam Hải. Nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, tại sao suốt thời kỳ 26 năm từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949-1975), Trung Quốc vì sợ Pháp, sợ Mỹ cho nên không dám nói đụng đến và cũng không có hành động nào thể hiện sự tranh chấp với chính quyền Việt Nam cộng hòa ở miền Nam đòi hai quần đảo là chủ quyền của Trung Quốc? Đến năm 1956, thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Trung Quốc vội xua quân tranh thủ chiếm được mấy hòn đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc muốn tiếp tục đánh chiếm các đảo, nhưng trước sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, Trung Quốc đành co lại. Khi quân đội Việt Nam cộng hòa cắm lực lượng bảo vệ ở Hoàng Sa và Trường Sa, suốt hơn chục năm Trung Quốc không dám ho hoe gì. Năm 1973, Mỹ vừa rút, thì ngày 19-1-1974 Trung Quốc xua quân ra chiếm tòan bộ quần đảo Hoàng Sa. Rõ ràng, với hai quần đảo lớn trên biển Đông này Trung Quốc đã nhiều lần thể hiện mưu đồ bành trướng, nhưng lại nhát gan sợ nước lớn, chực chờ rình rập cơ hội. Chính Trung Quốc đã tranh thủ khi Việt Nam đang dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, thấy Mỹ rút rồi, quân đội VNCH đã yếu, vội vàng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Bài báo cũng đã thừa nhận rằng: Tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đã đánh một trận với hải quân Việt Nam, đuổi hải quân Việt Nam ra khỏi quần đảo Tây Sa. Cũng có nghĩa là kể từ khi ấy, lập trường của Bắc Việt xuất hiện sự chuyển đổi rõ, tranh chấp đảo giữa hai nước bắt đầu từ đó. Trận hải chiến Tây Sa vừa kết thúc, hãng AFP đã dẫn lời của một “người có thẩm quyền” nói, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đối với mọi quốc gia đều là “sự nghiệp thiêng liêng”, nhưng tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua đàm phán”. Thế nhưng, cho đến nay, Trung Quốc có thiện ý gì về đàm phán hòa bình không? Trái lại, Trung Quốc thường xuyên đơn phương xâm phạm chủ quyền biển-đảo của Việt Nam.

Dù là trong bài viết nêu ra đủ thứ, trích lời người này người kia không phải đại diện chính thức cho Nhà nước Việt Nam, tầm chương trích cú nhưng không đưa ra được chứng cứ, dẫn liệu nào có giá trị pháp lý. Thời báo Hoàn Cầu dẫn lại lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Trong lúc kháng chiến, đương nhiên là chúng tôi phải đặt chuyện đánh đế quốc Mỹ lên cao hơn tất cả”, “về tuyên bố của chúng tôi, trong đó bao gồm cả những điều đã nói trong bức mà các ông gọi là Công hàm mà tôi đã gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cần phải được hiểu như thế nào? Cần phải được hiểu từ hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ”.

Cần phải nhìn nhận cho rõ, xét về nguyên tắc ngoại giao và Luật pháp Quốc tế, nội dung mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết gửi Thủ tướng Chu Ân Lai có phải là Thủ tướng có quyền đứng danh về mặt Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi Công hàm cho Nhà nước Trung Quốc hay không? Ngay trên tiêu đề là “Thưa đồng chí Tổng lý”, đâu có “Công hàm”? Hơn nữa, việc liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ Quốc gia phải được Quốc hội bàn thảo, ra Nghị quyết, Bộ ngoại giao hoặc chính Chủ tịch nước ra Công hàm.

BÙI VĂN BỒNG (BLOGPOST)

Advertisements

Không tồn tại cái gọi là ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’

Bức thư ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng, lúc đó ở cương vị Thủ tướng, không thể đại diện cho nhà nước VNDCCH, và hình thức cũng như nội dung chỉ là thư trao đổi giữa hai cá nhân với nhau trên tình đồng chí.

Theo từ điển Wiktinorya tiếng Việt: Công hàm là công văn ngoại giao của nước này gửi cho nước khác…(trao đổi công hàm giữa hai nước). Ví dụ như: Ngày 15/1/1950, Bộ trưởng Bộ Ngọai giao Nước Việt Nam DCCH Hoàng Minh Giám gửi công hàm đến Bộ trưởng Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai với nội dung tuyên bố công nhận Chính phủ nhân dân Trung Quốc do Chủ tịch Mao Trạch Đông lãnh đạo (1-10-1949) và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi Đại sứ với Chính phủ nhân dân Trung Quốc. Ngày 18/1/1950, Bộ trưởng Ngọai giao CHND Trung Hoa Chu Ân Lai đã gửi công hàm phúc đáp thông điệp.

Còn bức thư ngày 14-9-1958 của ông Phạm Văn Đồng, lúc đó ở cương vị Thủ tướng, không thể đại diện cho nhà nước VNDCCH, và hình thức cũng như nội dung chỉ là thư trao đổi giữa hai cá nhân với nhau trên tình đồng chí.

Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Mười ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi một bức thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Nhiều người còn nhớ, trước sự thua đau của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ 7-5-1954, cộng sản từ Liên Xô phát huy thế thắng, mở rộng đến Trung Quốc và Việt Nam. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Nhìn lại bối cảnh năm 1958, Việt Nam mới qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Đất nước còn nghèo, lại bị Mỹ phản lại Hiệp định Genève 20-7-1954, dựng lên chính quyền Việt Nam cộng hòa ở miền Nam để thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam. Trước đó, ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày23-8-1958, Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), cái mà Trung Quốc gọi là “Công hàm” 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam dân chủ cộng hòa – Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Thực chất chính phủ Hà Nội lúc đó nêu quan điểm ủng hộ tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc là muốn cho Hạm đội 7 của Mỹ tôn trọng vùng biển như tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mà không gây hấn phức tạp trên biển Bắc bộ, nhằm tránh sự xô xát, tranh chấp phức tạp để VN yên tâm bảo vệ nền hòa bình mới được lập lại trên miền Bắc và xây dựng cuộc sống mới.

Về vấn đề này, ngày24-1-2008 phóng viên đài BBC (Tiếng Việt) đã phỏng vấn Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary. Theo Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo.

Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này. Cái mà Trung Quốc gọi là “công hàm” thực chất chỉ là một lá thư ngắn, mà ông Phạm Văn Đồng gửi cho cá nhân Thủ tướng Chu An Lai, gọi thân mất, hữu nghị là “Đồng chí Tổng lý”, rằng: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin…”, hoàn toàn không phải là Tuyên bố của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa có đủ giá trị về mặt pháp lý.

Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc có không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt – Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.

Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ – Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô – Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện. Nếu Trung Quốc khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của họ thì suốt thập kỷ 60 họ đã đánh chiếm hai quần đảo này, không để cho quân đội VNCH chiếm giữ. Nhưng TQ không dả động gì. Năm 1973 Mỹ rút khỏi miền Nam VN, Trung quốc mới ra chiếm đảo Hoàng sa vào ngày 19-1-1974, nhưng cũng chưa dám đụng đến Trường Sa, có lẽ còn sợ Mỹ quay lại…

Bức thư ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Điều tất nhiên là khi Pháp rút, Mỹ can thiệp vào Đông Dương, thì hai nước theo đường lối XHCN Trung-Việt phải thực sự hòa hiếu, đoàn kết để chống kẻ thù chung. Việc trao đổi thư giữa các vị lãnh đạo hai nước bày tỏ tình cảm và quan điểm là chuyện đương nhiên. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan là có sự liên quan cả đến sự an nguy của Việt Nam. Hơn nữa, vùng biển vịnh Bắc bộ của VN tiếp giáp với TQ, khi vùng biển này theo Tuyên bố của TQ rộng 12 hải lý thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy cần ủng hộ để được yên phía Biển Đông.

Thực chất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan, đe dọa Trung Quốc mà trực tiếp là Vịnh Bắc bộ của Việt Nam. Nội dung bức thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng thấy cần có động thái viết thư trao đổi riêng với Thủ tướng Chu Ân Lai. Đây là thư trao đổi riêng giữa hai vị đồng cấp của hai nước vào thời điểm lịch sử lúc đó là “cùng phe XHCN”, là “láng giềng thân thiện”, hoàn toàn không phải là hiệp định được quốc hội mỗi nước phê chuẩn. Thế nên, nó càng không có giá trị pháp lý về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải.

Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề nói đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như không có một chữ nào công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh hải Trung Quốc. Một lý do nữa là ông Phạm Văn Đồng lúc đó không thể thay mặt nhà nước gửi “công hàm” về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam cộng hòa của Tổng thông Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên. Đọc thư thấy có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Nếu chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất thư ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng “Công hàm 1958” đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Namvới sự mượn cớ bức thư riêng ngày14-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên là không có hiệu lực.

Tại Hội nghị San Francisco1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự, kể cả Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến hiện nay, Việt Namcó đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý về chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1956, Liên hợp quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.

Cho nên, một lần nữa cần xác định cho rõ: Các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như thư của ông Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan như đã nêu và phân tích trên đây.

Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam có Mỹ bảo trợ, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo, đưa các đơn vị hải quân ra giữ đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Trung Quốc vẫn nghiễm nhiên công nhận việc bảo vệ chủ quyền của lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa, mà không có ý kiến gì. Chắc một phần là sợ Mỹ, một phần là tự thấy không đủ căn cứ pháp lý. Nay không còn ai để phải sợ, Trung Quốc lại “bắt nạt” Việt Nam để tranh giành chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Một bức thư riêng chỉ có 127 chữ với nội dung trao đổi giữ hai vị thủ tướng hai nước có tính chất “hữu hảo” cùng lý tưởng Cộng sản nếu có chăng chỉ đơn thuần về mặt ngoại giao thời điểm, thế mà gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là “Công hàm”, rằng họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có thể nói, giải thích xuyên tạc bức thư 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Nhận xét về quan điểm của Trung Quốc, Giáo sư Đại Học Paris III Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể từ bỏ ở cái mà người ta không có chủ quyền…”.

Chúng ta thấy rằng, về phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc bấy giờ không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.Vào ngày30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố:

1- Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.

2. Sự diễn giải của Trung Quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.

Việc Trung Quốc diễn giải nội dung “Công hàm” ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bức thư đó như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức chủ quan và thể hiện rõ sự tìm mọi cớ thực hiện dã tâm xâm lấn Biển Đông, hoàn toàn xa lạ với diễn tiến lịch sử, nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời, không thể coi là văn bản pháp lý để đưa ra tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Sắp tới, Nhà nước Việt Nam chính thức ban hành Luật Biển theo biểu quyết thông qua của 99,2% số phiếu tán thành tại Kỳ họp thứ 3 (Quốc hội khóa XIII), ngày 21-6 mới là văn bản pháp lý chính thức của nước Việt Nam về chủ quyền biển-đảo. Luật Biển của VN lần này sẽ thực sự chấm dứt mối nghi ngờ và lắm ý kiến nhiều chiều về bức thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Luật Biển mà Việt Nam sắp ban hành cũng dựa trên những giá trị các chứng cứ lịch sử đó và đúng với Công pháp Quốc tế về Luật biển năm 1982.

(BÙI VĂN BỒNG BLOGPOST)

Xem thêm: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng / Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang

Võ Nguyên Giáp – Huyền thoại bất tận

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những chiến công lẫy lừng. Bên cạnh đó, có những chuyện ít người biết, gợi băn khoăn pha chút tò mò với những người kính yêu Đại tướng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 102 tuổi

Ngày 25/8/2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn đại thọ 101 tuổi. Đại tướng được toàn thể nhân dân Việt Nam, bạn bè quốc tế và cả đối phương yêu quý, kính nể gọi ông là “vị tướng thần thoại”.

Đại tướng chưa bao giờ treo chữ “Nhẫn”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi tiếng là người làm việc bền bỉ, không ngừng nghỉ. Nhiều cán bộ làm việc trong Văn phòng Đại tướng đã phải thốt lên “sao lại có người làm việc trí óc với cường độ lớn đến thế” khi thấy ông làm việc suốt ngày suốt đêm, không nghỉ chủ nhật.

Trước tin đồn về việc phòng làm việc của Đại tướng có treo chữ “Nhẫn”, trả lời Vietnam+, Đại tá Nguyễn Huyên, người trợ lý đã gắn bó với tướng Giáp gần 40 năm (trong đó gần 20 năm phụ trách văn phòng của Đại tướng), khẳng định: “Chuyện nói Đại tướng treo chữ “nhẫn” là hoàn toàn bịa đặt. Đại tướng không hề treo chữ đó”.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Đại tá Nguyễn Huyên cho biết thêm: Một lần có người yêu kính Đại tướng muốn tặng anh chữ “Nhẫn” thư pháp lồng trong khung kính. Trước khi tặng, người đó có đến hỏi đại tá Nguyễn Huyên và ông đã nói với người này về hai cách hiểu chữ “nhẫn”. Thứ nhất có nghĩa là kiên nhẫn, nhẫn nại nhưng cũng có nghĩa thứ hai là nhẫn nhục. Đại tướng chưa bao giờ là người chịu nhẫn nhục theo cách hiểu thứ hai. Vì vậy, không nên tặng Đại tướng chữ “nhẫn” vì có thể làm cho người ta hiểu sai lệch hoặc có kẻ xuyên tạc.

Là người nhiều năm làm việc bên cạnh Đại tướng, đại tá Nguyễn Huyên rất hiểu tướng Giáp. Ông cho biết, Đại tướng ghét nhất là xu nịnh. Những ai cứ khúm núm, nói theo, nói cho vừa ý cấp trên không có chính kiến rõ ràng là Đại tướng không thích. “Có câu chuyện thế này: Tôi nhớ một hôm có đồng chí cán bộ cấp cao đi nước ngoài về đến thăm anh, nói với anh: “Người như Đại tướng thì ở bên đó người ta dựng tượng lâu rồi đấy ạ!” Anh nghe đến đấy liền hỏi: “Anh nói cái gì vậy! Đó là việc của người ta.”, đại tá Huyên kể.

“Nghề tay trái” của tướng Giáp

Có một chi tiết thú vị ít người biết, trong những năm 1936 – 1939, Đại tướng dành phần lớn thời gian cho hoạt động báo chí. Chi tiết này đã đem đến một góc nhìn khác về vị tướng huyền thoại: Nhà báo Võ Nguyên Giáp.

Võ Nguyên Giáp làm báo với các bút danh Hải Thanh, Vân Đình… Trước năm 1936, ông đã bắt đầu viết báo và có nhiều bài được đăng. Năm 1929, Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh đã viết bài “Vũ trụ và tấn hoá” đăng trên hai số 218 (ngày 28/9/1929) và 222 (ngày 10/10/1929) trên báo “Tiếng Dân”, tờ báo lớn nhất xứ Trung Kỳ lúc đó do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút.

Nhân sự việc Giám đốc trường Quốc học Huế đuổi một số học sinh của trường do tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu (6/1925), Võ Nguyên Giáp viết ngay một bài báo bằng tiếng Pháp “Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học” gửi đăng báo L’Annau ở Sài Gòn. Lúc ấy, Luật sư Phan Văn Trường đang làm chủ bút tờ báo này đã phải thốt lên: “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Pari”.

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo "Tiếng Dân" (1929 - 1930).

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo “Tiếng Dân” (1929 – 1930).

Theo Trung tướng Phạm Hồng Cư, anh em đồng hao với Đại tướng, Võ Nguyên Giáp thực sự tập trung làm báo từ năm 1936 khi ông cùng với Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hải Triều… mua lại và làm hồi sinh báo “Hồn Trẻ” đang ngừng xuất bản do thua lỗ. Có thể nói đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên công khai cổ động đấu tranh cho các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, đòi đại xá chính trị phạm… Báo rất được bạn đọc hoan nghênh, in ra không đủ bán. Báo ra đến số 5 thì bị nhà cầm quyền thực dân Pháp đóng cửa. Tuy nhiên đây là tiếng chuông báo hiệu phong trào hoạt động báo chí công khai của Mặt trận Dân chủ Đông Dương trong thời kỳ 1936 – 1939.

Không thể sớm có một tờ báo tiếng Việt trong tình hình ấy, Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí quyết định cho ra một tờ báo tiếng Pháp. Ngày 16/9/1936, báo Le Travail (Lao động) ra số đầu tiên. Võ Nguyên Giáp làm biên tập viên chính, được phân công viết khá nhiều đề tài: cổ vũ Đông Dương đại hội, Mặt trận Dân chủ, thời sự quốc tế, đời sống nông dân với các cuộc đấu tranh ruộng đất như Cồn Thoi, những cuộc đấu tranh bãi công của thợ xẻ, thợ giày, thợ mỏ…

Trung tướng Phạm Hồng Cư cho biết thêm: “Thời gian này, anh Giáp làm việc rất hào hứng, mặc dù sức khỏe của anh không tốt cho lắm. Nghe tin có cuộc bãi công lớn của công nhân vùng mỏ, anh đã đạp xe 200km từ Hà Nội về tới Cẩm Phả để viết bài đăng báo… Le Travail tồn tại được 7 tháng với 30 số báo. Ngày 16/4/1937, nhà cầm quyền thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa”.

Võ Nguyên Giáp vẫn tích cực tham gia viết bài cho các báo: Tin tức, Thế giới, Hà thành, Thời báo, Đời nay, Ngày mới… và một số tờ báo tiếng Pháp. Hàng loạt bài viết của Võ Nguyên Giáp nhằm tố cáo sự bóc lột dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam đã gây tiếng vang lớn trong đông đảo người đọc thời bấy giờ.

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: "Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng".

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: “Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng”.

Trong công việc báo chí, Võ Nguyên Giáp đã trải qua hầu hết các khâu của nghề báo, từ viết xã luận, thời đàm nghị luận, điều tra, phóng sự, biên tập, duyệt bài, sắp xếp nội dung, cho tới bố cục, lên trang, trình bày, đưa nhà in, sửa morasse và không ít khi cả việc phát hành báo. Có những kỷ niệm khó quên trong đời làm báo của Đại tướng. Có lần cùng một lúc, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam đều bận việc đột xuất không kịp viết bài, Võ Nguyên Giáp ngồi từ 6h chiều đến 6h sáng hôm sau, viết kín một thếp giấy 48 trang và bố cục, trình bày xong cả một số báo cho kịp đưa xuống nhà in, sau khi ăn điểm tâm, lại tới Trường Thăng Long dạy học.

Những năm đất nước đổi mới, các bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn được công chúng đón đợi. Ngày 10/9/2007, trên báo Sài Gòn Giải Phóng xuất hiện bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tiêu đề: “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” gây chấn động dư luận, đặc biệt hơn lúc này tác giả đã vào tuổi 97.

Năm 1991, Hội Nhà báo Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam dành cho những người đã có từ 25 năm làm báo trở lên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đón nhận phần thưởng này với niềm tự hào. Nhân dịp này, Đại tướng đã chia sẻ về nghề báo trong bài báo “Mười lăm năm làm báo trước Cách mạng tháng Tám”, đăng trên tạp chí Nhà báo và Công luận số tháng 8/1991 như sau:

“Nghề báo là một nghệ thuật đầy hứng thú. Sau này, khi chuyển qua công tác quân sự, tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Đó là một công việc luôn luôn khẩn trương, phải phát hiện kịp thời mưu đồ, thủ đoạn của giai cấp thống trị, yêu cầu, tâm lý đa dạng và thường xuyên thay đổi của bạn đọc, nguyện vọng sâu xa của nhân dân, để biết mình phải làm gì…”.

Đất Việt