Lưu trữ

Posts Tagged ‘Tự do Tôn giáo’

Việt Nam cần liên minh với ai?

Bấy lâu nay, một trong những đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích, nhận định, dự báo, đó là khả năng về xử lí mối quan hệ Việt Nam với các nước lớn mà chủ yếu là Mỹ và Trung Quốc.

Việt Nam cần liên minh với ai?

Việt Nam cần liên minh với ai?

Hầu hết đều đặt câu hỏi “Chúng ta nên liên minh với ai” để bảo vệ vững chắc nền an ninh quốc gia, tạo cơ hội phát triển đất nước. Đấy là những trăn trở rất đáng trân trọng. Phần lớn ý kiến cho rằng, không thể liên minh với Trung Quốc vì bài học quá khứ và hiện tại cho thấy Trung Quốc luôn xử sự với Việt Nam với thái độ bành trướng, đại hán, hiếp đáp hoặc kiềm tỏa Việt Nam trong sự lệ thuộc yếu với họ. Một số ý kiến cho rằng, nên liên minh với Mỹ, dựa vào sức mạnh Mỹ để chống chọi với Trung Quốc. Nước Mỹ luôn bênh vực, bảo vệ cho kẻ yếu. Tuy nhiên để đi với Mỹ thì phải “từ giã ý thức hệ, mở cửa tự do nhân quyền”.

Xem chi tiết…

Advertisements

Màn kịch trơ tráo của Đài SBTN

Lợi dụng kỷ niệm Ngày Quốc tế nhân quyền (10/12/2012), SBTN (đài truyền hình phát bằng tiếng Việt tại Mỹ), do Trúc Hồ làm Giám đốc điều hành, vừa phát động cái gọi là “Chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói”.

SBTN có thêm một màn kịch trơ tráo

SBTN có thêm một màn kịch trơ tráo

Căn cứ vào các hành vi mà SBTN từng thực hiện trong thời gian qua, có thể khẳng định đây thực chất là một màn kịch chính trị bị thao túng bởi các thế lực thù địch, nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Theo SBTN, cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” được phát động trong thời gian hai tháng, từ ngày 15-10-2012 đến ngày Quốc tế nhân quyền 10-12-2012.

Màn mở đầu của vở kịch lố lăng này là thu thập 100 nghìn chữ ký vào “thỉnh nguyện thư” gửi Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Ðại diện cấp cao của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Anh, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Ðức, Nhật, Hà Lan, Na Uy, Thụy Sỹ… “Thỉnh nguyện thư” trắng trợn vu khống Nhà nước Việt Nam kiểm duyệt internet, bắt giam tùy tiện và đối xử khắc nghiệt với “tù nhân lương tâm”, blogger và một số đối tượng “đấu tranh dân chủ ôn hòa”.

Các đối tượng gửi “thỉnh nguyện thư” kêu gọi Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự) và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Luận điệu trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư” không có gì mới, yêu sách đưa ra cũng đã nhàm, vì đó là mấy điều mà các thế lực thù địch vẫn lải nhải lâu nay.

Ðiều đáng nói là trong khi kêu gào như vậy, những kẻ chủ mưu sản xuất ra “thỉnh nguyện thư” cố tình phớt lờ, thậm chí phủ nhận nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Vì trên thực tế, Việt Nam luôn quan tâm mở rộng các kênh trao đổi về nhân quyền với Mỹ, EU và các nước khác thông qua các chuyến thăm, tìm hiểu thực tế hoặc đối thoại nhân quyền thường niên nhằm thu hẹp khác biệt trong quan điểm của các bên về vấn đề này.

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các công ước, tuyên ngôn, chương trình hành động của Liên hợp quốc, trong đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Trong khi vu cáo Việt Nam vi phạm các nội dung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì những kẻ chủ mưu “thỉnh nguyện thư” lại phớt lờ một vấn đề cốt lõi.

Trúc Hồ đã thông qua trung Asia để tuyên truyền chiến dịch cái gọi là "Triệu con tim, một tiếng nói"

Trúc Hồ đã thông qua trung Asia để tuyên truyền chiến dịch cái gọi là “Triệu con tim, một tiếng nói”

Ðó là chính các văn bản này đã quy định việc thụ hưởng nhân quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và các nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt để “tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức xã hội”. Ðó cũng là lý do để Việt Nam ban hành và thực thi Bộ luật Hình sự, trong đó có các quy định về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Ðiều 79), “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” (Ðiều 87) và “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” (Ðiều 88). Cần khẳng định đây là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Ở Việt Nam không có “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân chính trị” như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Bên cạnh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật và đưa ra các yêu sách vô căn cứ, cách thức ký tên vào “thỉnh nguyện thư” cũng rất kỳ quặc. Người tham gia chỉ việc điền họ tên (bất kể tên thật hoặc tên giả), tên thành phố và quốc gia cư trú rồi xác nhận bằng địa chỉ email. Với phương thức này, một người có thể tự lập hàng chục, thậm chí hàng trăm email ảo để tham gia ký “thỉnh nguyện thư”. Do đó, số người tham gia do SBTN công bố thực chất chỉ là con số ảo, vì không thể kiểm chứng.

Ngay sau khi có bài viết của tác giả Lam Sơn, SBTN đã phản biện "sặc mùi tâm lý chiến" thông qua kẻ phát ngôn mặc áo ký giả có tên Phạm Trần

Ngay sau khi có bài viết của tác giả Lam Sơn, SBTN đã phản biện “sặc mùi tâm lý chiến” thông qua kẻ phát ngôn mặc áo ký giả có tên Phạm Trần

Thêm nữa, theo danh sách ký vào “thỉnh nguyện thư” có thể nhận ra những cái tên quen thuộc, có tiền sử chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền như Dân biểu Hạ viện Mỹ Loretta Sanchez, các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố thuộc “đảng Việt Tân” (như Ðỗ Hoàng Ðiềm, Hoàng Tứ Duy) hay những đối tượng từng bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, xét xử vì các hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước như Nguyễn Văn Ðài, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Giải,…

Bước tiếp theo trong chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là kêu gọi cộng đồng gọi điện thoại hoặc fax 24/24 giờ đến Ðại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam trên toàn thế giới. Tác giả của màn kịch “triệu con tim, một tiếng nói” gọi đây là hành động “biểu tình qua điện thoại và fax”. Ðể làm việc này, thông qua website của SBTN và một trang mạng khác, họ cung cấp danh sách và số điện thoại của các cơ quan đại diện Việt Nam; đồng thời hướng dẫn chi tiết cách thức, nội dung gọi điện thoại và fax, đề nghị người tham gia sao chép lại nội dung trao đổi để phát tán trên các mạng xã hội như facebook, Youtube, blog…

Hành động quấy nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể xem là một biến tướng của khủng bố thông tin. Ðây là loại hình khủng bố mới xuất hiện khi công nghệ thông tin phát triển.

Theo Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài ban hành năm 2009, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (Ðại sứ quán, Lãnh sự quán) có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ chính trị – xã hội, quốc phòng – an ninh, văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời thực hiện nhiệm vụ lãnh sự như liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp đổi, cấp lại, hủy bỏ các loại hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam, cấp và gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, hủy bỏ thị thực và giấy miễn thị thực của Việt Nam…

Việc duy trì sự thông suốt mạng lưới thông tin của các cơ quan đại diện ở Việt Nam ở nước ngoài là tối cần thiết. Hành động khủng bố hệ thống điện thoại và fax của các cơ quan đại diện Việt Nam sẽ cản trở hoạt động của các cơ quan đại diện, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và tác động trực tiếp tới lợi ích của chính cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài, vì thế cần phải lên án nghiêm khắc và cần phải xử lý.

Vậy đằng sau chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là gì? Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên SBTN phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư”. Trước đó, từ ngày 8-2 đến ngày 5-3-2012, Trúc Hồ (SBTN) đã phối hợp với Nguyễn Ðình Thắng và Tổ chức cứu người vượt biển – BPSOS, phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư” trên diễn đàn We the people của Nhà Trắng để kêu gọi chính quyền Mỹ gây sức ép với Việt Nam để thả Việt Khang (đối tượng bị cơ quan An ninh Việt Nam bắt giữ vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước), kêu gọi Mỹ “chấm dứt phát triển thương mại với Việt Nam nếu không cải thiện về nhân quyền”.

Tuy nhiên, cái gọi là “chiến dịch thỉnh nguyện thư” đó đã thất bại thảm hại, bộ mặt thật của mấy kẻ chủ mưu đã bị người Việt ở nước ngoài vạch trần. Họ cho rằng, SBTN và BPSOS đã lừa đảo và lợi dụng cộng đồng để mưu lợi cho tổ chức. SBTN bị cáo buộc lợi dụng “chiến dịch” này để thu lợi từ quảng cáo, tăng số lượng thuê bao để tránh bị Hệ thống truyền hình vệ tinh Direc TV cắt sóng (vì từ năm 2006, số lượng thuê bao của SBTN bị sụt giảm liên tục xuống dưới mức quy định). Không phải ngẫu nhiên mà Trúc Hồ giúp mấy “nhà dân chủ”, liên tục phát động các “chiến dịch thỉnh nguyện thư vì dân chủ nhân quyền”.

Ðằng sau những mục tiêu mà SBTN đưa ra để mị dân, là những toan tính của Trúc Hồ để gây tiếng vang, chứng minh ảnh hưởng của SBTN. Hơn nữa, núp sau “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” là các tổ chức đã có tiền sử chống phá Việt Nam như “Nhân quyền cho Việt Nam”, “đảng Việt Tân”, “Tổ chức Dân chủ nhân dân”,… Các tổ chức này đang hà hơi, tiếp sức cho chiến dịch của SBTN để đánh bóng tên tuổi, làm dày “thành tích chống cộng”, thu hút sự chú ý của cộng đồng và các thế lực cực hữu nhằm dễ bề vận động tài chính.

Là một đài truyền hình, lẽ ra SBTN phải đi đầu trong việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam, giúp cộng đồng người Việt tại Mỹ hiểu thêm về đất nước, từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước, đó là cái tâm và cái đích mà người làm báo chân chính hướng tới. Nhưng SBTN lại đi chệch hướng, tự biến mình trở thành công cụ của các tổ chức đội lốt nhân quyền để chống phá Việt Nam. Việc làm đó không mang lại vinh dự và uy tín mà trái lại chỉ càng làm cho hình ảnh của SBTN thêm xấu xa. Chính vì thế, chắc chắn cái gọi là chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” sẽ thất bại thảm hại, như các “chiến dịch” do SBTN phát động trước đây mà thôi.

Lam Sơn (báo Nhân Dân)

Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/them-m-t-man-k-ch-chinh-tr-tr-trao-c-a-sbtn-1.375335

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả – Tựa đề do TQS đặt lại

Họ tự cho mình quyền hoạnh họe?

Dân tộc Việt Nam đang là chủ nhân thực sự của đất nước mình, họ đang sống, làm việc và vun đắp cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc, không một ai có thể tước đoạt hoặc áp đặt một giá trị lạ lẫm lên cuộc sống và văn hoá của dân tộc này.

Thực chất cái mà Mỹ gọi là vấn đề nhân quyền ở Việt Nam / Tự do tôn giáo ở Việt Nam – Sự thật không thể xuyên tạc

Dân tộc Việt Nam có một bề dầy về lịch sử và một nền văn hiến lâu đời. Trong hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, mặc dù có hàng ngàn năm bị đô hộ của ngoại bang nhưng vẫn quyết đứng lên giành lại độc lập, đó là cách thể hiện nhân quyền cao nhất của một dân tộc.
Và sau này cả dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới bằng bản tuyên ngôn độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo. Đó là một tuyệt tác, nó nhắc lại một lần nữa bản tuyên ngôn độc lập của cường quốc Hoa Kỳ năm 1776. Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng là bản tuyên ngôn về nhân quyền cho dân tộc Việt Nam,về ý nghĩa nó bao trùm tất cả những điều mà loài người tiến bộ trên toàn thế giới theo đuổi.

Một nguyên tắc cơ bản nhất bảo vệ quyền con người đó là các nước nhỏ chống lại tham vọng tước đoạt độc lập, chủ quyền của các nước lớn, chống lại áp bức, chống lại kiếp làm nô lệ, chống lại bạo quyền, chống độc tài. Bất cứ một sự can thiệp nào của nước lớn vào công việc nội bộ của một nước mà chính phủ đó do dân bầu ra, chính phủ đó vì dân thì sự can thiệp chỉ là một cái cớ áp đặt hòng thao túng theo ý đồ nước lớn. Dân tộc Việt Nam sẽ phản đối đến cùng sự áp đặt đó, quyền con người được tôn trọng và ngày càng thăng hoa khi chủ quyền quốc gia được giữ vững, đó là điều kiện tiên quyết.

Một dân tộc trải qua hai cuộc chiến tranh thần thánh được cả thế giới ngợi ca về lòng quả cảm, về nhân phẩm con người thì không có một lý do gì lại không bảo vệ thành quả xương máu đó mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ một quốc gia độc lập. Vậy mà, ngày 11-9-2012 hạ viện Hoa Kỳ thông qua hai cái gọi là dự luật về nhân quyền đối với Việt Nam là H.Res.484 và H.R.1410.

– Dự luật 484 do Bà dân biểu Loretta Sanchez khởi xướng kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng các quyền con người cơ bản và chấm dứtt việc lạm dụng các điều luật về an ninh như điều 79 và điều 88 Bộ Luật Hình sự lấy chúng làm cớ để bắt bớ những người chỉ ủng hộ quyền tự do tôn giáo và chính trị một cách hòa bình ?

– Nghị quyết H.R. 1410 do ông dân biểu Chris smith khởi xướng – đặt mục tiêu thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam thông qua điều tiết các khoản tăng viện trợ phi nhân đạo của Mỹ cho chính quyền Việt Nam gắn với các cải thiện có thể chứng thực được trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam ?

Hai vị dân biểu này không lạ lẫm gì đối với người dân Việt Nam, đã nhiều lần họ đã cố gắng thúc đẩy lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua những cái gọi là những dự luật để vu khống, áp đặt những điều bịa đặt đến phi lý lên một quốc gia có chủ quyền độc lập, một quốc gia đã ký kết tất cả các văn kiện về quyền con người và nỗ lực thực thi nội dung một cách đầy đủ nhất. Là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp thì các vị dân biểu tại hạ viện Hoa Kỳ phải hiểu rằng, trật tự thế giới này được duy trì trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi cho nhau, cùng chung sống hoà bình.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn cho mình một định chế xã hội và ý thức hệ, mỗi quốc gia độc lập thì tuỳ theo thực tế mỗi nước mà lựa chọn riêng cho mình. Nội dung quyền về con người là một vấn đề riêng của mỗi nước, nó cũng giống như chủ quyền quốc gia vậy, vấn đề về nhân quyền không thể nào tách riêng ra khỏi lịch sử của đất nước đó hoặc những nét đặc thù riêng của từng quốc gia.Vấn đề nhân quyền cho thấy nó đòi hỏi tất cả các nước phải chấp nhận một thực tế là những chuẩn mực của một nước hoặc là một nhóm các nước không thích hợp và thiếu thực tế để áp đặt những chuẩn mực đó lên một nước khác.

Việt Nam coi trọng quyền con người và kiên quyết chống lại sự can thiệp của các nước khác vào công việc nội bộ của đất nước mình. Ỉ là một nước lớn đi hoạnh hoẹ một nước nhỏ thì các vị phải hiểu được rằng giữa chúng ta có một điểm chung là đang sống trong một quốc gia độc lập, nói người khác phải nghĩ đến mình, hãy nhìn lại mình khi cất cao giọng dạy dỗ người khác. Đã là con người thì buộc phải tổ chức thành một xã hội có thể chế chính trị để sống và phát triển hết khả năng của bản thân con người đó, cống hiến nhiều nhất cho cộng đồng, thì dù ở bất cứ ở đâu thì quyền con người được bảo vệ khi người đó là công dân của một nước độc lập.

Thử hỏi có bao giờ Việt Nam lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải như thế này, như thế kia trong các vấn đề thuộc về công việc nội bộ hay không ? câu trả lời là không bao giờ. Chỉ có kẻ mang tư tưởng nước lớn khi muốn áp đặt ý muốn của mình lên các nước nhỏ thì họ luôn khoác trên mình một chiếc áo ý thức hệ phổ quát, dùng chiêu bài này để xoá bỏ những đặc thù riêng của mỗi dân tộc, xoá nhoà văn hoá, biên giới lãnh thổ quốc gia, không thèm đếm xỉa đến quyền tự chủ của dân tộc đó, đem ý thức hệ của mình áp đặt lên dân tộc khác. Trong một thế giới có sự xáo trộn mạnh như ngày nay thì nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền là chìa khoá duy nhất để thực thi trật tự trên nguyên tắc cùng sống chung, chỉ có những quốc gia nào hành xử không theo những nguyên tắc chung mà hiến chương liên hợp quốc đề ra về quyền con người thì nhất định quốc gia đó cần có sự can thiệp một cách hợp lý nhất.

Một số vị dân biểu đã cố tình gạt bỏ một nguyên tắc cơ bản nhất đó là chủ quyền quốc gia của một dân tộc hơn 90 triệu con người, một dân tộc có những nét đặc trưng rất thú vị cho các dân tộc khác, một dân tộc trọng tình nghĩa, chia ngọt sẻ bùi với các dân tộc liên bang, một dân tộc đã lấy máu của mình để cứu cả một dân tộc khác, một dân tộc sẵn có lòng vị tha cho kẻ thù đã giết hại hàng triệu người cùng dòng máu, một dân tộc nén nỗi đau của di hoạ chiến tranh vì không muốn khơi lại hận thù, một dân tộc đi lên từ đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến đẫm máu.

Họ đã nuốt mước mắt vào trong để nở một nụ cười, chìa tay ra với các dân tộc khác để làm bạn bè cho dù đó là kẻ thù của ngày hôm qua.

Việt nam đã trải qua tất cả những gì đau thương nhất chỉ một mục tiêu cháy bỏng ” không có gì quý hơn độc lập tự do”, dù có thiêu cháy cả dãy trường sơn thì dân tộc tôi cũng sẵn lòng để thực thi mục tiêu đó. Có đât nước nào mà suốt chiều dài đi đâu cũng gặp những nghĩa trang của những người con Việt, họ đã nằm xuống ở tuổi thanh xuân vì một lý tưởng cao đẹp là độc lập mà đỉnh cao nhất đó là quyền làm chủ thực sự đất nước mình. Dân tộc Việt Nam đang là chủ nhân thực sự của đất nước mình, họ đang sống, làm việc và vun đắp cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc, không một ai có thể tước đoạt hoặc áp đặt một giá trị lạ lẫm lên cuộc sống và văn hoá của dân tộc này, cho dù để bảo vệ phẩm giá thiêng liêng đó phải đối đầu không ít khó khăn, trở ngại nhưng với bản chất kiên trì và tâm hồn trong sáng dân tộc Việt Nam quyết không lùi bước, như cha ông đã dặn dò “chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo ”.

AMARI TX (WORDPRESS)

 

 

 

Thực chất cái mà Mỹ gọi là vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, Nhà Trắng luôn cáo buộc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ, đàn áp dân tộc tôn giáo. Mĩ luôn đưa Việt Nam vào danh sách các nước vi phạm nhân quyền, cần được Mĩ quan tâm đặc biệt. Đặc biệt tối ngày 11/9/2012, Nhà Trắng đã thông qua cái gọi là Dự luật Nhân quyền ở Việt Nam, tiếp tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ. Đây chính là những luận điệu tuyên truyền, vu khống trắng trợn của chính quyền Mĩ đối với Nhà nước Việt Nam.

> Thóa mạ Việt Nam khi nói ‘Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam’Lại trò ‘Ảo thuật ngôn từ’Bằng chứng tội ác tố cáo vi phạm nhân quyền của quân đội Hoa Kỳ

Biếm họa về nhân quyền kiểu Mỹ

Biếm họa về nhân quyền kiểu Mỹ

Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện tốt các chính sách nhằm đảm bảo triệt để quyền tự do dân chủ, bình đẳng dân tộc, tự do tôn giáo của toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được quy định cụ thể trong hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Nhà nước Việt Nam đảm bảo thực hiện nghiêm minh. Những chính sách tiến bộ về dân tộc, tôn giáo đã được triển khai thực hiện sâu rộng trên toàn quốc, phát huy những hiệu quả to lớn, góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Những bằng chứng thực tế đều chứng minh rằng Việt Nam hoàn toàn không hề vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, bình đẳng dân tộc.

Tuy nhiên, Mĩ vẫn không ngừng cáo buộc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo. Đây là những tuyên bố phi lí và còn ẩn chứa đầy mâu thuẫn trong khi chính trong nội bộ nước Mĩ lại đang tồn tại những vấn đề về nhân quyền. Có thể đưa ra những so sánh đơn giản về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và Mĩ để thấy rõ những mâu thuẫn trong tuyên bố của Mĩ.

Thứ nhất, theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào HĐND. Điều này đảm bảo quyền làm chủ đất nước thuộc về toàn thể nhân dân, người dân có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Trong khi đó, theo luật pháp nước Mĩ, chỉ những người nào có một lượng tài sản nhất định mới được quyền bầu cử và ứng cử. Theo một thống kê thì tại Mĩ, 1% dân số Mĩ nắm giữ 99% tài sản nước Mĩ và 99% dân số còn lại chỉ sở hữu 1% tài sản quốc gia. Vậy thì có thể thấy rằng quyền làm chủ đất nước Mĩ sẽ rơi vào tay 1% dân số Mĩ đang nắm giữ khối lượng tài sản lớn, 99% dân số còn lại hoàn toàn không có quyền quyết định công việc đất nước. Vậy Mĩ dân chủ hay Việt Nam dân chủ?

Thứ hai, Việt Nam luôn duy trì chính sách tự do tôn giáo. Mọi tôn giáo đều được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện phát triển, đều bình đẳng như nhau. Trong những năm gần đây, nhiều những trung tâm phật giáo, thiền viện phật giáo, giáo đường Thiên chúa giáo được tu bổ, mở rộng, hoặc xây dựng mới. Nhà nước cùng tiếp tục duy trì chính sách đoàn kết tôn giáo, cùng chung tay xây dựng đất nươc được toàn thể nhân dân hưởng ứng. Trong khi đó, tại Mĩ, với sự duy trì chính sách thù địch với Hồi giáo chính là nguyên nhân gây nên vụ khủng bố 11/9 của những phần tử Hồi giáo cực đoan. Đồng thời những cuộc chiến tranh của Mĩ tại Trung Đông cũng đã khiến thế giới Hồi giáo thực sự bức xúc. Điều này cũng đủ so sánh Việt Nam tôn trọng tôn giáo hay Mĩ tôn trọng tôn giáo.

Thứ ba, Việt Nam luôn duy trì chính sách bình đẳng dân tộc. Mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều bình đẳng, không phân biệt đối xử. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến sự phát triển của các dân tộc, tạo điều kiên thuận lợi để bà con dân tộc thiểu số nâng cao chất lượng cuộc sống, theo kịp sự phát triển của người kinh. Trong khi đó, tại Mĩ, vẫn còn đâu đây những tàn dư của chế độ phân biệt chủng tộc A-pac-thai. Những hình ảnh binh sĩ Mĩ ngược đãi, hành hạ dã man tù binh Ap-ga-nixtan, Irắc… đã gây lên sự bất bình to lớn của toàn thể loài người tiến bộ. Rồi việc duy trì nhà tù wan-ta-la-mo với những hành vi tra tấn, hành hạ tù nhân chính là những bằng chứng cho việc vi phạm nhân quyền của Mĩ. Vậy Việt Nam vi phạm quyền bình đẳng dân tộc hay là chính Mĩ đang vi phạm nhân quyền.

Từ những so sánh đơn giản trên, chúng ta có thể thấy rõ một điều: Nhà Trắng đang vu cáo Việt Nam nhưng điều mà chính Nhà Trắng đang mắc phải. Phải chăng là do tư tưởng chủ nghĩa nước lớn mà Mĩ đã tự cho mình cái quyền áp đặt những đánh giá chủ quan phiến diện của mình lên một quốc gia? Phải chăng, dựa vào cái gọi là học thuyêt Nhân quyền cao hơn chủ quyền mà Mĩ đã và đang tìm cách dựa vào vấn đề Nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam? Và phải chăng, bằng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, Mĩ đã và đang tiến hành phá hoại tư tưởng Việt Nam, thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình thâm độc của mình?

Nhưng nước Mĩ đâu biết rằng những việc làm của mình đã và đang vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và gây nên những bức xúc sâu sắc cho loài người tiến bộ và cả trong chính nội bộ nước Mĩ. Sau khi Nhà Trắng thông qua cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam, Hạ nghị sĩ Eni Faleomavaega đã khẳng định đây là một bước đi lạc hướng của chính phủ Mĩ. Ông nói: “Nếu họ (Hạ viện Mĩ) thật lòng quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy giúp Việt Nam là sạch hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mĩ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1971 bởi việc để lại khối hoá chất độc hại này ở Việt Nam là sự vi phạm nghiêm trọng về quyền con người”.

Một dự luật được Hạ viện Mĩ thông qua mà ngay chính thành viên của Hạ viện đó đưa ra ý kiến phản đối một cách quyết liệt đủ thấy sự thiếu khách quan trong việc thông qua dự luật này. Và Nhà Trắng thực sự nên xem xét lại về cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam khi đã có những dấu hiệu thiếu khách quan, thiếu bằng chứng trong nó.

Blog Việt Nam ngày về

Nghề mới: Tuyên truyền chống phá Nhà nước

20/09/2012 3 comments

(Blog Người Làm Báo) – Trong thời gian gần đây, nhiều phần tử đã sử dụng chiêu bài “Tuyên truyền chống phá Nhà nước” để kiếm tiền. Nhiều đối tượng không nghề nghiệp ổ định, sống lang thang, ăn chơi lêu lổng đã bị các phần tử phản động nước ngoài móc nối kêu gọi viết blog hay gửi bài cho những trang mạng xã hội để tuyên truyền bôi xấu chế độ XHCN, chống phá nhà nước. Những thành phần nầy được nhiều trang mạng xấu đưa lên đánh bóng như Ba Sàm, Dân Làm Báo, Nữ Vương Công Lý, Vietland, X-cafevn, Facebook Nhật Ký Yêu Nước, Quan làm báo…

Sau khi được đánh bóng trở thành các “nhà dân chủ” thì những đối tượng này nhận được tiền “viện trợ” từ những tổ chức, cá nhân phản động ở nước ngoài .

Nghề kiếm tiền này rất khấm khá, trước đây có các đối tượng thuộc loại đàn anh đàn chị như Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Khắc Toàn, Lê Thị Công Nhân làm nghề viết bài, phỏng vấn tuyên truyền chống phá Nhà nước để được các phần tử, tổ chức phản động nước ngoài gửi “tiền lương”, có lúc 6 đến 7 triệu đồng, riêng phần tử nào “khét tiếng chống Cộng” thì có khi nhận được từ 20 đến 40 triệu mỗi tháng là chuyện thường, đó là chưa nói tới làm nghề “chống cộng” để được tấm vé xuất ngoại như trường hợp “dân oan” Bùi Kim Thành hay “nhà dân chủ” Trần khải Thanh Thủy. Một khi ra tới nước ngoài thì những thành phần này biết không còn được lãnh lương nên đâu còn tranh đấu, “trâu đánh” nữa .

Vì là nghề làm ăn khấm khá nên không ít các phần tử đóng vai “dân oan”, “tôn giáo bị đàn áp” hay “đấu tranh dân chủ” vì nhiều đứa nhảy vào ăn có, dành nhau tiền “bồi dưỡng” bằng chiêu bài “tuyên truyền chống phá Nhà nước” có đứa dành tiền đánh nhau xảy ra trước đây như hai nhà “rân chủ” Trần Khải Thanh Thủy và Nguyễn Khắc Toàn vì miếng cơm bên nhiều bên ít đành hạ nhục nhau thảm thương .

Chỉ cần vào blog Dân Làm Báo thì sẽ thấy ngay phần tử nào đang làm nghề kiếm tiền kiểu này, điển hình như Phạm Thanh Nghiên, Phạm Văn Trội, Huỳnh Thục Vy , Mẹ Nấm, Phan Ngọc Tuấn, Nguyễn Chí Đức… Còn Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải hiện đang bị giam và trong những ngày tới VKSND TPHCM cho biết đã chuyển cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sang TAND TPHCM để xét xử trong thời gian tới đối với 3 bị can Nguyễn Văn Hải (SN 1952, ngụ quận 3, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (SN 1968, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (SN 1969, ngụ quận Thủ Đức – TPHCM).

Các bị can nói trên bị truy tố tội “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2, điều 88 , Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Vì cách kiếm tiền của những phần tử này mà Việt Nam bị mang tiếng xấu, mới đây hạ viện HoaKỳ thông qua dự luật H.R.1410 và nghị quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam.

Chúng ta cần phân biệt những phần tử Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để nhằm lật đổ chính quyền như Đảng Việt Tân thì chúng ta cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội còn những thành phần xã hội lợi dụng bộ luật “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” với mục đích kiếm tiền thì chỉ nên phạt hành chính họ. Nhà nước ta không cần phải giam tù những phần tử như Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần hay Phan Thanh Hải mà chỉ cần phạt hành chính vì việc xử tù dễ bị các nước khác hiểu sai lệch về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam và đó là việc nhà nước không nên làm.

Lưu Trinh

Nguồn: http://nguoilambaovn.blogspot.com/2012/09/tuyen-truyen-chong-pha-nha-nuoc.html

Tự do tôn giáo ở Việt Nam – Sự thật không thể xuyên tạc

12/07/2012 2 comments

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi thủ đoạn thâm độc. Trong đó, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo là một thủ đoạn mà chúng thường dùng.

Đại lễ rước, cung nghinh xá lợi Đức Phật lớn nhất Việt Nam (nguồn: vtv.vn)

Đại lễ rước, cung nghinh xá lợi Đức Phật lớn nhất Việt Nam (nguồn: vtv.vn)

Đã trở thành thông lệ, cứ đến dịp tháng 3, tháng 9, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại tự cho mình cái quyền công bố báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở các nước trên thế giới. Các tổ chức nhân quyền, các phương tiện thông tin của Mỹ và các nước phương Tây được dịp phụ họa, “tát nước theo mưa” tuyên truyền rùm beng về cái gọi là “vi phạm các quyền con người”, “quyền tự do tôn giáo trên thế giới”; trong đó, Việt Nam là một trong những nước bị chỉ chích nặng nề. Không có gì mới lạ trong các luận điệu chỉ trích về vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo của Mỹ và phương Tây đối với nước ta và các nước trong nhiều năm qua. Vẫn giọng điệu của một kẻ kiêu căng, trịch thượng; vẫn một thái độ áp đặt, thiên kiến chủ quan, đòi hỏi một “tiêu chuẩn kép” về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; vẫn một thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Vậy mục đích của các nhà “dân chủ” Mỹ và phương Tây ở đây là gì? Phải chăng là vì quyền con người, vì đối thoại xây dựng? Những hành động thực tế của họ đã cho câu trả lời là không! Nói một cách rõ ràng hơn, thực chất là họ lợi dụng nhân quyền, tự do tôn giáo như một công cụ chính trị nhằm bôi đen, hòng xóa bỏ chế độ chính trị ở các nước không thân thiện, gây áp lực để bảo vệ lợi ích và sự thống trị toàn cầu của Mỹ.

Chúng ta đều biết, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận tại Điều 18 trong Tuyên ngôn nhân quyền toàn thế giới năm 1948 và được phát triển đầy đủ hơn trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc. Theo đó, mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; không một ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo, một tín ngưỡng; quyền tự do thực hành tôn giáo, tín ngưỡng có thể bị giới hạn… Như vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có giới hạn. Sự giới hạn đó là cần thiết nếu việc thực hiện quyền này xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự xã hội, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và tự do cơ bản của người khác. Nói cách khác, ở tất cả các nước, các loại hình tổ chức tôn giáo đều được tự do hoạt động nhưng phải trong giới hạn của hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi hoạt động tôn giáo gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức và các quyền của người khác…, đều bị cấm và nghiêm trị theo pháp luật. Những tổ chức hoạt động mê tín dị đoan, giả danh tôn giáo, giáo phái cực đoan đều không được thừa nhận có tư cách và quyền như một tôn giáo. Hầu hết các quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều ghi nhận và thực hiện quyền này trong hiến pháp, pháp luật của mình.

Đối với nước ta, Điều 70 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 11-5-2005 của Chính phủ và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, “sống tốt đời, đẹp đạo”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam, các thế lực thù địch trong và ngoài nước mưu toan phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ các tôn giáo, chia rẽ người có đạo và người không có đạo. Chúng xuyên tạc, vu cáo, bôi đen tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam; tung ra nhiều luận điệu xằng bậy: “ở Việt Nam không có tự do tôn giáo”, Đảng Cộng sản “vô thần” chủ trương xóa bỏ tôn giáo. Gần đây, khi một số đối tượng lợi dụng tự do tôn giáo để hoạt động chống phá chính quyền, vi phạm pháp luật, bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý theo quy định của pháp luật thì họ tìm cách xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “bắt giam các nhà tu hành vì lý do tôn giáo”, v.v.

Quan điểm nhất quán của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo đã khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo đã xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân các tôn giáo trong việc quản đạo, hành đạo, truyền đạo; nơi thờ tự của các tôn giáo được Nhà nước bảo hộ; việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo được quy định cụ thể và hết sức rõ ràng, theo hướng tích cực cải cách thủ tục hành chính về thời gian, trình tự thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo hoạt động. Không chỉ được thể hiện bằng các quan điểm, chính sách mà trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân, của mọi tổ chức tôn giáo chân chính với hàng chục triệu tín đồ trên cả nước luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển. Ở Việt Nam, không có bất kỳ ai bị bắt, giam giữ hoặc kiểm soát, truy bức vì lý do tôn giáo; những người theo tín ngưỡng, tôn giáo được tự do sinh hoạt, thờ cúng, tiến hành các nghi lễ tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Đó là sự thật không thể chối cãi, phủ nhận và trên thực tế đã và đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên dải đất hình chữ “S”.

Song, thật nực cười là họ lại không thấy những điều mà ai cũng thấy, hoặc thấy nhưng phớt lờ những chính sách đúng đắn và nỗ lực của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo. Liên tiếp nhiều năm qua, ở nước ngoài, một số nghị sĩ tại Hạ viện Hoa Kỳ luôn thể hiện thái độ, quan điểm cực đoan, thiếu công bằng để “đánh giá” vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ luôn đưa ra đòi hỏi ngang ngược, vô lối nhằm kích động, hà hơi tiếp sức cho một số công dân Việt Nam lợi dụng vỏ bọc “hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo” để vi phạm pháp luật. Thậm chí họ còn lên án, đòi Chính phủ ta “công nhận” các tổ chức tôn giáo giả hiệu, như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Tin lành Đề Ga và can thiệp đòi thả các “tù nhân tôn giáo”. Đặc biệt vừa qua, trong “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” do ông Cơ-rít Xi-mít, nghị sĩ Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ) là tác giả đã vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, trong đó có quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo và kiến nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Đây là những luận điệu đầy định kiến, một chiều, xuyên tạc, không khách quan, vô căn cứ của các tổ chức nhân quyền nước ngoài. Họ đã cố tình không nhận ra rằng, sau hơn 25 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt; trong đó, quyền con người, quyền tự do tôn giáo được bảo đảm ngày một tốt hơn; các tôn giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, thì đến nay đã có 12 tôn giáo và 37 tổ chức tôn giáo với trên 20 triệu tín đồ, chiếm 25% dân số cả nước. Điều đó chứng tỏ sự phát triển của các tôn giáo ở Việt Nam là tốt đẹp và luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Hiện nay, cả nước có gần 100.000 chức sắc tôn giáo, trên 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều công trình được trùng tu, xây mới. Tính riêng hai năm 2010 và 2011 đã có gần 500 công trình tôn giáo được xây mới, hơn 600 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học, như: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo và các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Hoạt động báo chí, in ấn, xuất bản trong lĩnh vực tôn giáo được đẩy mạnh, riêng Nhà xuất bản Tôn giáo đến nay đã xuất bản hơn 4.000 đầu sách với số lượng hàng chục triệu bản. Sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện ở nhiều sự kiện, hoạt động tôn giáo sôi động. Năm 2011, Lễ Bế mạc Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo Việt Nam được tổ chức long trọng tại giáo sứ La Vang, tỉnh Quảng Trị; Đại lễ kỷ niệm 72 năm khai sáng đạo Phật giáo Hòa hảo; Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; Đại hội Giới trẻ giáo tỉnh Hà Nội lần thứ IX với sự tham gia của hơn 2 vạn bạn trẻ Công giáo đến từ 10 giáo phận, 26 tỉnh, thành phố thuộc giáo tỉnh Hà Nội…, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không phủ nhận rằng, hoạt động tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo vẫn còn bất cập, hạn chế ở một vài địa phương trong một số vụ, việc cụ thể; nhưng về cơ bản, lãnh đạo các chức sắc tôn giáo tại Việt Nam và đông đảo những người có lương tri trên thế giới đến thăm Việt Nam đều thừa nhận những thành tựu to lớn của nước ta trên lĩnh vực tôn giáo. Ông Nguyễn Cao Kỳ – một người từng làm Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn – khi về thăm Việt Nam, chứng kiến sự thật đã thốt lên rằng: “Không phải riêng tôi, mà cả trăm, nghìn Việt kiều về thăm quê hương đều thấy chùa chiền được xây cất ngày càng nhiều, người đi chùa, đi nhà thờ đông nghìn nghịt, hoàn toàn không có sự cấm đoán. Nếu mà nói về tự do tôn giáo thì thật sự có tự do, không ai có thể chối cãi được”. Năm 2009, Đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ do Phó Chủ tịch M.L Cro-ma-ti dẫn đầu đến thăm và làm việc tại Việt Nam đã nhận xét: “Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ”. Có thể dẫn câu nói của cựu Đại tá Mỹ An-đrê Xau-va-gốt từng tham chiến tại Việt Nam, Cố vấn Hội đồng Thương mại Mỹ – Việt thay lời kết: “Với tư cách là người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam đã lâu, tôi hoàn toàn không đồng ý với bản báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tự do tôn giáo ở Việt Nam… Tôi khẳng định rằng, những người bị bắt tại Việt Nam không bao giờ vì lý do tôn giáo, mà là vì vi phạm pháp luật của chính đất nước đã nuôi dưỡng họ. Tôi nghĩ, một số thành phần thù địch ở Mỹ cố tình xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam mà không hiểu thực tế vì chưa bao giờ họ đặt chân đến Việt Nam, chỉ nghe lời xuyên tạc và đi theo một cách mù quáng”.

TS. NGUYỄN ĐỨC THÙY

Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh