Lưu trữ

Posts Tagged ‘Việt Minh’

Phạm Ngọc Thảo – Oanh liệt trong thầm lặng (Kỳ 4)

23/12/2012 3 comments

Luận về quân tử – tiểu nhân

Những bài báo “gây sốc” của Phạm Ngọc Thảo đã tạo một tiếng vang lớn. Chúng được giới quân sự, chính trị ở Sài Gòn cũng như các chuyên gia CIA và tình báo nước ngoài rất quan tâm. Họ “soi” rất kỹ để biết Phạm Ngọc Thảo là ai. Ngay cả cấp trên của ông Thảo cũng hồi hộp lo lắng về nước cờ cao nhưng liều lĩnh của ông.

Phạm Ngọc Thảo (phải) lúc làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa - Ảnh: LIFE

Phạm Ngọc Thảo (phải) lúc làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa – Ảnh: LIFE

Xem chi tiết…

Advertisements

Tuyên ngôn độc lập năm 1945

– Giữa những ngày Cách mạng tháng Tám đang diễn ra sôi sục Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã dành đựơc chính quyền.

– 25/8/1945 Hồ Chí Minh cùng với Trung Ương Đảng, Ủy ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội. Theo đề nghị của Người, 1 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Công hòa được thành lập, công cuộc chuẩn bị cho ngày Chính phủ Lâm thời ra mắt trước quốc dân đồng bào được tiến hành khẩn trương.

– Ngày 28/8/1945 c/quyền đã dành được trong toàn quốc. Việt Nam thực sự trở thành 1 nước độc lập, tự do. Thay mặt cho Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh viết “Tuyên ngôn độc lập” tại gác 2 số 48 phố Hàng Ngang – Hà Nội.

– Ngày 02.9.1945 trước sự chứng kiến của hàng vạn nhân dân Thủ Đô – Đại diện cho nhân dân cả nước, thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với ndân cả nước và nhân dân thế giới bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dâm chủ Cộng hòa.

Người bộ đội Cụ Hồ qua nét vẽ của hoạ sĩ Mỹ

“The NVA and Viet Cong” của tác giả Kenneth Conboy nằm trong bộ sách Elite của nhà xuất bản Osprey, nhằm giúp người đọc có những hiểu biết cơ bản là hoàn cảnh ra đời cũng như những sự kiện nổi bật, những chiến dịch tiêu biểu trong quá trình phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Không chỉ dừng ở việc điểm qua những hoạt động, chiến dịch cơ bản của lực lượng vũ trang Việt Nam qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam đến thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại nước bạn Campuchia, cuốn sách đem đến cho người đọc hiểu biết cơ bản về cấu trúc, cách tổ chức các đơn vị quân sự trong Quân đội Nhân Dân Việt Nam cùng với những tiểu sử sơ lược về những vị tướng nổi tiếng.

Đặc biệt, cuốn sách còn chú trọng đến miêu tả quân trang, phục của các binh chủng trong biên chế Quân đội nhân dân Việt Nam qua từng thời kỳ với đầy đủ thông tin như vật liệu, kích cỡ.

Không chỉ dừng ở việc minh họa bằng những bức ảnh đen trắng, những quân trang quân phục này còn được họa sĩ Simon McCouaig, họa sĩ chuyên vẽ minh họa cho các cuốn sách quân sự hiện đại, minh họa một cách trực quan bằng những hình vẽ rất sống động.

Dưới đây là các hình vẽ trích từ tác phẩm “The NVA and Viet Cong”.

1 - Sĩ quan Việt Minh ở Hà Nội năm 1954. 2 - Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Hà Nội năm 1955.

1 – Sĩ quan Việt Minh ở Hà Nội năm 1954.
2 – Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Hà Nội năm 1955.

1 & 2 - Chiến sĩ du kích thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (PLAF) ở Sài Gòn năm 1968.  3 - Huy hiệu của chiến sĩ thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

1 & 2 – Chiến sĩ du kích thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (PLAF) ở Sài Gòn năm 1968.
3 – Huy hiệu của chiến sĩ thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

1. Tướng Võ Nguyên Giáp, đầu thập niên 1960.  2. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, đầu thập niên 1970.  3. Thiếu tướng Chu Huy Mân, đầu thập niên 1970.

1. Tướng Võ Nguyên Giáp, đầu thập niên 1960.
2. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, đầu thập niên 1970.
3. Thiếu tướng Chu Huy Mân, đầu thập niên 1970.

 1 & 2 - Sĩ quan phi công trong lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam năm 1972.

1 & 2 – Sĩ quan phi công trong lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam năm 1972.

1 - Trung úy pháo binh năm 1972.  2 - Sĩ quan pháo binh năm 1972.  3 - Hạ sĩ quan pháo binh năm 1972.

1 – Trung úy pháo binh năm 1972.
2 – Sĩ quan pháo binh năm 1972.
3 – Hạ sĩ quan pháo binh năm 1972.

1 & 2 - Nhân viên Bộ nội vụ (Công an Nhân dân) đầu những năm 1980.  3 - Huy hiệu Công An gắn trên mũ.

1 & 2 – Nhân viên Bộ nội vụ (Công an Nhân dân) đầu những năm 1980.
3 – Huy hiệu Công An gắn trên mũ.

1 - Trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1987.  2 - Huy hiệu gắn trên mũ của chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam.  3 - Huy hiệu gắn trên mũ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam.  4 - Huy hiệu gắn trên mũ của cấp tướng.

1 – Trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1987.
2 – Huy hiệu gắn trên mũ của chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam.
3 – Huy hiệu gắn trên mũ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam.
4 – Huy hiệu gắn trên mũ của cấp tướng.

1 - Chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam tại chiến trường Campuchia năm 1988.  2, 3, 4, 5 & 6 - Các cấp bậc trong Hải quân Nhân dân Việt Nam.

1 – Chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam tại chiến trường Campuchia năm 1988.
2, 3, 4, 5 & 6 – Các cấp bậc trong Hải quân Nhân dân Việt Nam.

1 - Chiến sĩ xe tăng thuộc Lữ đoàn tăng thiết giáp 203 tại mặt trận Sài Gòn năm 1975.  2 - Trung uý tăng thiết giáp tại Campuchia năm 1988.

1 – Chiến sĩ xe tăng thuộc Lữ đoàn tăng thiết giáp 203 tại mặt trận Sài Gòn năm 1975.
2 – Trung uý tăng thiết giáp tại Campuchia năm 1988.

1 - Chiến sĩ thuộc Sư đoàn Xây dựng kinh tế biên giới phía bắc năm 1980.  2 - Chiến sĩ biên phòng tại biên giới Việt - Trung, thập niên 1980.

1 – Chiến sĩ thuộc Sư đoàn Xây dựng kinh tế biên giới phía bắc năm 1980.
2 – Chiến sĩ biên phòng tại biên giới Việt – Trung, thập niên 1980.

1 - Thượng tướng Lê Ngọc Hiền tại Campuchia năm 1988.  2 - Thượng uý hải quân năm 1988.  3 - Thượng tá lục quân năm 1988.  4 - Thượng tá không quân năm 1988.

1 – Thượng tướng Lê Ngọc Hiền tại Campuchia năm 1988.
2 – Thượng uý hải quân năm 1988.
3 – Thượng tá lục quân năm 1988.
4 – Thượng tá không quân năm 1988.

Tổng hợp từ ĐẤT VIỆT ONLINE và bản gốc ấn phẩm “The NVA and Viet Cong”

Đừng yêu nước bằng máu của người khác!

10/07/2012 3 comments

Những người gác biển không cần những người “đứng” sau lưng bằng những bài viết răn dạy về tình yêu nước trên Facebook.

Bài vết của blogger Bao Anh Thai

Bài vết của blogger Bao Anh Thai

“Ông ngoại tôi từng cầm mác búp đa, lưng dắt lựu đạn, cắt rào kẽm gai công đồn Pháp cùng với những người lính Nhật Bản tình nguyện theo Việt Minh thời chín năm. Chiến thuật của đơn vị ông rất đơn giản: Cắt rào, ném lựu đạn vô lô cốt và xung phong vào đánh giáp lá cà khi quân Pháp còn chưa hết choáng váng vì tiếng nổ. Ông tôi không kể về những tổn thất của đơn vị.

Xem chi tiết…

Bi kịch của biệt kích dù Pháp ở Điện Biên Phủ

Quân đội Pháp đã mất gần như toàn bộ lực lượng biệt kích dù tinh nhuệ nhất của họ tại Điện Biên Phủ.

Bán đảo Đông Dương vào cuối năm 1945, người Pháp đã phải đối mặt với tình hình khác hoàn toàn trước kia. Việt Minh đã tổ chức được một đội quân lớn có khả năng chiến đấu cao và tổ chức các chiến dịch tấn công thường xuyên.

Tình hình quân sự bắt đầu có vẻ như là thành công đối với người Pháp. Giữa năm 1945 và 1946 các đơn vị quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Tướng Leclerc dễ dàng đẩy lui lực lượng vũ trang Việt Minh và chiếm quyền kiểm soát các vị trí chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, chiến thắng dễ dàng lại là phần mở màn cho cuộc chiến khó khăn kéo dài.

Binh lính Pháp mệt mỏi truy đuổi đối phương trong các khu rừng rậm dày đặc, trong khi đó, bộ tham mưu đi đến kết luận, đối phương không có khả năng đấu tranh mạnh mẽ hơn. Đó là một sai lầm chết người.

Đến năm 1951 phía Việt Nam đã có hơn 120.000 quân nhân chính quy và có sự hỗ trợ của một số lượng gấp đôi con số đó đến từ các lực lượng địa phương. Cũng trong năm này, đội quân viễn chinh Pháp có khoảng 152.000 người và khoảng 120.000 lính thuộc địa.

Như vậy, Việt Minh vượt trội quân viễn chinh Pháp về quân số và ý chí chiến đấu, ngay cả với vũ khí pháo binh Việt Minh cũng có ưu thế hơn nhờ nguồn viện trợ quốc tế. Người Pháp có lợi thế duy nhất trong lĩnh vực hàng không, không quân, nhưng con át chủ bài này không được sử dụng thành công trong thực tế.

Biệt kích dù Pháp trong chiến tranh Việt Nam.

Biệt kích dù Pháp trong chiến tranh Việt Nam.

Trong hai thập niên đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Anh (nhất là các lực lượng đặc biệt) ngay cả trong những thời kỳ đỉnh điểm nhất ở Malaysia chưa bao giờ phải đối mặt với một lực lượng trên 8.000 quân du kích.

Các đơn vị lính dù không chuyên

Nhớ lại hồi tháng 10/1947, trong chiến dịch Việt Bắc, các phi đội Ju-52 cũ của quân Đức (máy bay vận tải duy nhất ở Đông Dương), đã được sử dụng trong chiến dịch tấn công chớp nhoáng quân đội Việt Minh tại Bắc Cạn và thả xuống đây 3 đại đội biệt kích dù.

Tận dụng yếu tố bất ngờ, người Pháp dễ dàng chiếm ưu thế trước Việt Minh. Pháp bắt giữ một số quan chức cao cấp của Việt Minh, tuy nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp rời khỏi nơi làm việc an toàn.

Bắc Cạn trở thành bài học đối với cả hai bên. Người Pháp đã không thành công trong mục tiêu tiêu diệt đầu não của Việt Minh, dù biệt kích đã tới rất gần mục tiêu. Nguyên nhân được giải thích là lực lượng biệt kích dù như hiện tại là không đủ. Cần phải tăng số lượng của họ để có thể giải quyết được các nhiệm vụ khó khăn, trong khi Hiến pháp của nước Pháp ngăn cấm tuyển quân cho chiến trường Đông Dương.

Do đó, giải pháp là tăng cường các đơn vị biệt kích dù thông qua việc tổ chức lại lực lượng lính lê dương. Lính lê dương đã tán thành nhiệt tình ý tưởng này.

Tiểu đoàn biệt kích dù lê dương số 1 được thành lập với sự hỗ trợ huấn luyện của các sĩ quan biệt kích dù cao cấp người Anh. Sau đó, Tiểu đoàn này nhanh chóng được đưa vào tham chiến vào năm 1948 dưới sự chỉ huy của Đại úy Segretena.

Đến năm 1950, Pháp đã có bốn tiểu đoàn biệt kích dù lê dương, được tổ chức thành hai trung đoàn. Trong thành phần đội lính lê dương, đặc biệt là sau năm 1945, chủ yếu là người Đức. Thời gian đầu họ chiếm hơn 2/3 quân số Tiểu đoàn biệt kích dù lê dương số 1, và trong số họ có nhiều cựu lính dù của Tướng Shtudent (Trung tướng và là người sáng lập lực lượng biệt kích dù của quân đội Đức quốc xã).

Các phương pháp huấn luyện hà khắc được áp dụng với các lực lượng này đã biến các đơn vị biệt kích dù lê dương thành một lực lượng có sức mạnh ghê ghớm. Một tình nguyện viên người Anh từng tham gia lực lượng này, đã viết: “Lính lê dương nổi tiếng với hai nghệ thuật: thu gom và giết. Đó là những gì mà lính lê dương thường làm và làm rất ấn tượng”.

Dù biệt kích dù lê dương đã thành công trong một số chiến dịch kiểu như: Eben Emael, Arnhem và Corregidor, họ không thích hợp để trấn áp cuộc chiến tranh du kích mà được tiến hành bởi phong trào đấu tranh vì độc lập của Việt Nam.

Khi họ bắn phá làng mạc, họ dọn sạch tất cả những gì xung quanh, cứ mỗi một lính dù lê dương bị chết thì họ giết chết 10 người Việt Nam. Lính lê dương không hiểu, hoặc không muốn hiểu những mục tiêu của các nhà lãnh đạo Việt Minh. Lính dù lê dương không ngu ngốc, nhưng chiến lược thiết lập hòa bình của họ thông qua sự sợ hãi đã mang lại kết quả ngược lại với những gì họ mong đợi. Sợ hãi thường kèm theo sự không phục tùng và thù hận.

Cùng với lính biệt kích dù lê dương ở bán đảo Đông Dương còn có các đơn vị lính lê dương khác, mà dẫn đầu là thành viên ưu tú của các lực lượng vũ trang tự do Pháp – bán lữ đoàn số 13 lừng danh.

Từ lực lượng này người ta chọn ra hai nhóm lính đặc biệt với quân số 24 người mỗi nhóm. Được trang bị vũ khí, phương tiện thông tin và một ít thực phẩm họ ẩn náu hàng tuần lễ trong rừng rậm và theo dõi các chuyển động của Quân đội Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của họ trở nên vô ích vì các tướng lĩnh Pháp ở Hà Nội không thèm đọc các báo cáo họ gửi về.

Thảm họa tại Điện Biên Phủ, 1954

Lính biệt kích dù Pháp và lính lê dương tạo thành lực lượng tinh nhuệ của đoàn quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, nhưng các chiến dịch với sự tham gia của họ thường kết thúc bằng những thành tích mà không ai có thể sử dụng được.

Dù là đội quân tinh nhuệ, nhưng cũng không ít lần lực lượng này gặp trường hợp tổn thất nặng nề. Tháng 10/1950 Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 hầu như bị xóa sổ trong quá trình giải cứu đoàn xe cơ giới Pháp, bị bao vây khi rút lui trên đường số 4 ở phía Tây Bắc Hà Nội. Mỗi cuộc hành quân đều biến biến thành các cuộc giao tranh bất tận.

Trong số đó, trận đánh nổi tiếng nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu ngày 20/10/1953 bằng cuộc đổ bộ và chiếm giữ một sân bay cũ do người Nhật xây dựng trong thung lũng Điện Biên Phủ, trên tuyến biên giới Việt – Lào.

Chỉ huy Pháp, Đại tá Christian de la Croix de Castries đã bắt đầu xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm phòng thủ kiên cố, mệnh danh là “pháo đài bất khả xâm phạm”. Ông này chia khu vực này thành những vị trí phòng thủ vững chắc như một pháo đài, bao quanh quanh sân bay trung tâm, và đặt cho mỗi vị trí đó một cái tên của một người phụ nữ: Claudine, Ellen và Dominic, Beatrice, Gabrielle, Anna Maria, và Isabel Hyuget… Những người ác ngôn nói rằng, đây là cách ngài Đại tá de Castries tưởng nhớ những người phụ nữ của mình.

Tập đoàn cứ điểm phòng thủ này nằm ở trung tâm lãnh thổ của đối phương rõ ràng là một việc làm đáng ngờ, đặc biệt, nếu như tính đến việc cung cấp hậu cần chỉ có thể thực hiện được bằng đường hàng không.

Khi lập kế hoạch vành đai phòng thủ và triển khai pháo binh đã phạm phải nhiều lỗi nghiêm trọng, chẳng hạn như có những ngọn đồi có khả năng không chế toàn bộ long chảo Điện Biên Phủ đã không được kiểm soát. Bộ Tham mưu Pháp tin rằng Quân đội Việt Nam hiện tại không thể để đặt các vũ khí hạng nặng trong khu vực này. Họ đánh giá thấp chỉ huy Việt Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã hóa giải thành công vấn đề này và chỉ trong năm tuần đầu năm 1954 đã đưa vào đây 200 khẩu pháo và bố trí bốn sư đoàn chính quy trên các ngọn đồi xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ.

Ngày 13/3/1954 quân đội Việt Nam đã nổ súng tấn công Điện Biên Phủ và trong tám tuần sau đó những vụ đánh bom diễn ra liên tục. Bom đạn đã phá hủy sân bay, buộc người Pháp phải tiếp tế thực phẩm và đạn dược bằng dù. Đó là một hành động tuyệt vọng, vì các đơn vị phòng không Việt Nam đã bắn hạ và làm hư hỏng 169 máy bay – gần một nửa số máy bay của Không quân Pháp lúc bấy giờ.

Trong khi bị bao vây người Pháp đã thả xuống Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hết tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác, dù rõ ràng rằng cuộc chiến của họ đã bị bại. Những người lính thực hiện các mệnh lệnh một cách nhẫn nhục nhờ tinh thần đoàn kết đặc trưng của các đơn vị tinh nhuệ trong chiến đấu.

Đặc biệt, Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 đã đổ bộ được xuống Điện Biên Phủ trong làn đạn của Quân đội Việt Nam, và bị tổn thất phần lớn binh lực. Dù tổn thất nặng nề, Tiểu đoàn này ngày hôm sau đã phải tham gia cuộc phản công chiếm lại pháo đài Helen bị Việt Minh chiếm từ cuối tháng 3/1954.

Cuộc chiến đã diễn ra rất khốc liệt, khi hai bên đều quyết tâm chiếm và giữ cho bằng được cứ điểm này, và cuối cùng người Pháp đã chiếm giữ được.

Sau 2 tuần của tiểu đoàn thứ hai đã cố gắng chiếm lại pháo đài Hyuget, nhưng bị tổn thất mất 150 người và đã được sáp nhập thành một đơn vị duy nhất với những tàn quân còn lại của Tiểu đoàn số 1.

Hơn 11.000 lính Pháp đã bị bắt làm tù binh trong trận Điện Biên Phủ

Hơn 11.000 lính Pháp đã bị bắt làm tù binh trong trận Điện Biên Phủ

Đến ngày 7/5, Việt Minh tấn công trên quy mô lớn đã phá vỡ sự kháng cự của Điện Biên Phủ. Nhiều binh lính của Tập đoàn cứ điểm hơn 15.000 người đã thiệt mạng, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh, ngoại trừ 75 người trong Ban Tham mưu.

Hơn 4.000 binh lính và sĩ quan Pháp đã thiệt mạng trong trận chiến, 11.000 người bị bắt làm tù binh. Lính lê dương từ các nước Đông Âu được gửi đến Liên Xô . Hàng trăm người khác đã chết vì bị thương, đói, bệnh sốt xuất huyết, và rắn cắn.

Những mất mát này chẳng thấm tháp gì khi tính đến tổng quân số quân đội Pháp trên toàn Đông Dương (hơn 152000 quân chính quy), nhưng nó đã chạm đến màu sắc của quân đội. Những quyết định ngu ngốc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Pháp là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến thảm họa ở Điện Biên Phủ, đặc biệt là tổn thất gần như hoàn toàn các đơn vị biệt kích dù tinh nhuệ nhất của quân đội Pháp. Tinh thần của quân Pháp đã bị mất hoàn toàn, và họ không thể thắng nổi nếu tiếp tục cuộc chiến tranh.