Lưu trữ

Posts Tagged ‘Võ Nguyên Giáp’

17/2 không phải là ngày kỷ niệm chiến thắng biên giới 1979

20/02/2013 2 comments
Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979

Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979

Vào những ngày này 34 năm trước (1979), bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh bất ngờ xua hơn 50 vạn quân vượt biên cương, hùng hổ xua quân đánh thẳng vào 6 tỉnh miền Bắc Việt Nam, mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Đất nước Việt Nam lúc bấy giờ đang là một đất nước mang đầy thương tích chiến tranh, chịu nhiều hậu quả chiến tranh tàn khốc, chịu đựng 9 triệu tấn bom và chất độc hóa học, nhiều gần gấp 3 lần tổng số bom cả thế giới rải vào nhau trong 2 cuộc Thế chiến. Việt Nam vừa trải qua thời kỳ chiến tranh dài nhất trong Việt sử và một trong các thời kỳ chiến tranh dài nhất trong lịch sử thế giới.

Xem chi tiết…

Advertisements

Việt Nam hơn Trung Quốc điều gì?

21/01/2013 2 comments

Xét về phương diện lực lượng vũ trang, cơ sở hạ tầng thì Việt Nam không thể nào sánh bằng Trung Quốc. Bởi trên thực tế, Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới còn Việt Nam chỉ xếp thứ 13. Xét về lượng vũ khí tối tân thì Việt Nam không nhiều bằng Trung Quốc… Thế nhưng, xét về mưu trí thì Việt Nam hơn hẳn!

Xem chi tiết…

Lịch sử ngày Thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12

Quân đội nhân dân Việt Nam là con đẻ của phong trào cách mạng và nhân dân.

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Xem chi tiết…

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chiều 20-12, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đến thăm, chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chúc Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn mạnh khỏe, trường thọ. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh khẳng định: Tấm gương của Đại tướng luôn là nguồn động viên to lớn và là niềm tự hào của lực lượng vũ trang và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp dịp Tết Nhâm Thìn 2012 (Ảnh minh họa)

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp dịp Tết Nhâm Thìn 2012 (Ảnh minh họa)

Chào, bắt tay Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp biểu thị sự cảm ơn và mong muốn cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân tiếp tục hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh biểu dương tập thể thầy thuốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thời gian qua đã làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sự nỗ lực, cố gắng của tập thể thầy thuốc Bệnh viện 108 là thể hiện lòng biết ơn với những công lao đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với sự nghiệp cách mạng, đặc biệt sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh căn dặn các thầy thuốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp tục chăm sóc sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp thật chu đáo để Đại tướng mạnh khỏe, trường thọ.

Nguồn: Phùng Quang Thanh

Phòng thủ biên giới Việt – Trung và vai trò của cố vấn Liên Xô

Vào ngày thứ ba cuộc chiến biên giới Việt – Trung, một đoàn cố vấn quân sự cao cấp của Liên-xô do Đại tướng Obaturov dẫn đầu đã đến Hà Nội. Sau khi tìm hiểu tình hình và nghiên cứu chiến trường, họ kết luận lực lượng VN thiếu sự điều phối và không đủ sức ngăn cản bước tiến của quân TQ. Họ đề nghị các nhà lãnh đạo VN cấp tốc điều các sư đoàn chủ lực từ Cambodia về, đồng thời họ cũng yêu cầu Matxcơva viện trợ quân sự khẩn cấp cho VN. Ngoài ra, 29 sư đoàn quân Liên-xô với sự hỗ trợ của không quân đã di chuyển đến biên giới Xô – Trung thuộc khu vực Mãn Châu nhằm kìm chân TQ từ phía Nam. Trên biển Đông, 30 tàu chiến Liên-xô tiến vào, đề phòng hành động của hạm đội Nam Hải. Tuy vậy, trên thực tế, không quân và hải quân đều không được VN và TQ sử dụng trong cuộc chiến này. Bộ Tổng tham mưu TQ không đồng ý sử dụng không quân trong khi nhiều chỉ huy chiến trường yêu cầu chi viện. Có lẽ, do yếu tố Liên-xô, TQ phải hạn chế cả về không gian, thời gian và quy mô cuộc tấn công.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979

Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979

Các cố vấn Liên-xô ra mặt trận, lên tuyến đầu biên giới nơi chiến sự đang diễn ra ác liệt. Mặc dù họ rơi vào trận pháo kích mạnh của quân TQ, may mắn không ai bị thương nhưng sáu cố vấn Liên-xô đã hy sinh tại Đà Nẵng trong một tai nạn máy bay vào đầu tháng Ba năm đó.

Hiển nhiên, sự có mặt của Đoàn cố vấn quân sự Liên-xô là một hành động thực thi Hiệp định hữu nghị và hợp tác giữa VN và Liên-xô vừa ký kết trước đó – ngày 3.11.1978.

Đây là một trong những thỏa thuận quan trọng nhất của Hiệp định:

“Trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công, hoặc bị đe dọa tiến công thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau nhằm loại trừ mối đe dọa đó, và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước”.

Không có gì khó khăn để chúng ta nhận thấy, thỏa thuận nêu trên chính là một sự “bảo đảm” của Liên-xô cho VN mà trực tiếp là đề phòng, ngăn chặn và đánh bại một cuộc tấn công bất ngờ từ TQ đối với VN. Rõ ràng, không thể có chuyện ngược lại, vì chắc chắn VN không thể “áp dụng những biện pháp thích đáng” nhằm loại trừ mối đe dọa đối với Liên-xô nếu điều đó xẩy ra.

Sau khi TQ hoàn tất việc rút quân, các cố vấn quân sự Liên-xô vẫn còn ở lại giúp VN lập kế hoạch phòng thủ biên giới phía Bắc, huấn luyện quân sự và nhiều lĩnh vực khác. Theo Hiệp định hữu nghị và hợp tác, Liên-xô đã viện trợ cho VN nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại, góp phần bảo vệ đất nước.

Đại tướng Obaturov, Trưởng đoàn cố vấn quân sự đầu tiên của Liên-xô tại VN là người giỏi toàn diện cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và kỹ thuật quân sự. Ông ta có thể tự mình lái xe tăng và hiểu rõ tính năng các loại súng. Sau này, ông là Giám đốc Học viện quân sự Phrunde rồi sang Cuba làm Trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên-xô.

Thông thường, các cố vấn bao giờ cũng độc đoán, áp đặt, chỉ muốn người ta nghe mình. Cố vấn TQ, cố vấn Liên-xô tại VN hay cố vấn VN tại Cambodia đều mang đặc điểm đó. Sự khác nhau là ở vấn đề mức độ.

Về chiến lược phòng thủ của VN, tướng Obaturov đề nghị là “phòng ngự tích cực”, bố trí lực lượng thành hai tuyến, mỗi tuyến có ba dải phòng ngự cấp sư đoàn, tiền duyên phòng ngự cách biên giới khoảng mười một cây số, ngoài tầm pháo của TQ từ bên kia biên giới bắn sang.

Có lẽ các cố vấn quân sự Liên-xô không quên bài học năm 1941 – thời điểm Đức tấn công Liên-xô. Bấy giờ, nhiều khu vực phòng thủ của quân đội Liên-xô nằm khá gần biên giới, được chính Xtalin phê chuẩn. Song, Zhukov, lúc này là Tổng tham mưu trưởng cho rằng, những tuyến phòng thủ này do chiều sâu không lớn lắm, không thể cầm cự lâu dài vì pháo binh Đức có thể bắn vào khắp trận địa Liên-xô. Vì thế, cần phải xây dựng trận địa phòng thủ lùi sâu hơn nữa. Tiếc rằng, quan điểm đúng đắn của Zhukov đã không được coi trọng đúng mức. Lịch sử đã ghi nhận, chỉ mấy ngày đầu chiến tranh, Liên-xô đã mất hơn 1.200 máy bay.

Trở lại vấn đề phòng thủ biên giới Việt – Trung. Các tướng lĩnh VN vừa mới ra khỏi mấy cuộc chiến tranh, dày dạn kinh nghiệm, luôn kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa kỹ thuật hiện đại và truyền thống chiến tranh nhân dân. Họ muốn bố trí quân đội, tuy vẫn phân chia tuyến một, tuyến hai nhưng tổ chức phòng thủ các sư đoàn ở các vùng trọng điểm, chủ yếu ngăn chặn TQ trên các trục đường chính từ bên kia biên giới sang. Xen kẽ giữa các khu vực phòng thủ của các sư đoàn chủ lực là lực lượng địa phương, dân quân du kích bảo vệ cạnh sườn, đề phòng TQ đánh vu hồi các khu vực phòng thủ sư đoàn. Phía trước tiền duyên phòng ngự tùy theo địa hình, tổ chức thành các “dải tác chiến phía trước” bằng lực lượng địa phương, dân quân du kích, chốt giữ các cao điểm khống chế và chủ động đánh ngăn chặn, phục kích, tập kích, tiêu hao đối phương trước khi chúng vào tiền duyên phòng ngự. Nói chung, VN bố trí lực lượng mạnh giữ vững các khu vực trọng yếu nhưng vẫn để lực lượng dự bị lớn để phản công.

Cho nên, đôi khi giữa các cố vấn Liên-xô và các tướng lĩnh VN xẩy ra tranh cãi gay gắt. Chẳng hạn, việc bố trí 12 sư đoàn ở dải một biên giới, các cố vấn Liên-xô nhiều lần đề nghị mỗi sư đoàn có một tiểu đoàn xe tăng hoặc pháo tự hành, một tiểu đoàn ô tô vận tải. Nhưng Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn không đồng ý, ông phân tích nhiều về lợi hại và sau đó kiên quyết đề nghị để số xe tăng, ô tô đó làm lực lượng dự bị. Tướng Obaturov nói một cách giận dữ: “Nếu các đồng chí không đồng ý bố trí các tiểu đoàn xe tăng và các tiểu đoàn ô tô cho các sư đoàn dải một biên giới thì tôi không có lý do gì đề nghị Bộ Tổng tham mưu Liên-xô viện trợ thêm xe tăng và ô tô cho các đồng chí…”. Thế là, để có thể nhận được viện trợ về xe tăng và ô tô của Liên-xô, Lê Trọng Tấn đành đồng ý với Obaturov nhưng với chủ ý là sẽ bố trí cho 12 sư đoàn đó một thời gian, sau đó rút dần về làm lực lượng dự bị. Tất nhiên, một số tướng lĩnh VN cho rằng như vậy là VN chịu sự áp đặt của cố vấn Liên-xô. Bố trí xe tăng và pháo lên tiền duyên phòng ngự như thế, nếu TQ tấn công thì “bị nướng hết”!

Các cố vấn Liên-xô đã giúp quân đội VN nhiều lĩnh vực như lập kế hoạch viện trợ, tổ chức xây dựng lực lượng, đảm bảo hậu cần, huấn luyện quân sự… Đặc biệt, từ năm 1979 đến năm 1985, đã tổ chức hàng chục cuộc tập trận cấp quân đoàn và quân khu, các cuộc diễn tập cho các lực lượng toàn miền Bắc. Qua các cuộc tập trận do các cố vấn Liên-xô chỉ đạo, trình độ tham mưu, chỉ huy của các tướng lĩnh VN cũng được nâng cao. Tuy vậy, cũng có ý kiến là “học tập giáo điều, đánh theo cách đánh của Liên-xô” là không thích hợp với VN. Có người nói, “tôi tập thế này nhưng tôi không đánh thế này”?!

Về vấn đề này, nhớ lại năm 1971, Võ Nguyên Giáp thăm Liên-xô, đề nghị Liên-xô có sự giúp đỡ đặc biệt để chống lại người Mỹ.

Thủ tướng Liên-xô Kosygin:

– Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết các đồng chí có bao nhiêu sư đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng, máy bay chiến đấu…, các đồng chí có bao nhiêu và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết.

Đúng là ngôn ngữ câu hỏi của phái “dân sự” và trả lời của tướng Giáp càng nổi bật điều đó.

– Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi với Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xô-viết là như vậy. Học thuyết quân sự Xô-viết là hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi được hai tiếng đồng hồ. Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của VN, và chúng tôi sẽ thắng”.

Từ năm 1987, Đoàn cố vấn Liên-xô rút dần về nước. Tiếp sau đó là những năm tháng đầy khó khăn đối với nhân dân Liên-xô và sự kiện bất ngờ nhất thế kỷ XX đã xẩy ra: Liên-xô sụp đổ. Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác giữa VN và Liên-xô hết hạn năm 2003 và không được gia hạn. Liên-xô đã biến mất. Các liên minh dựa trên ý thức hệ cũng không thể tồn tại trong thế giới ngày nay. Nước Nga không phải là Liên-xô và liệu VN có thể trông chờ gì từ nước Nga, câu hỏi còn bỏ ngỏ.

Võ Nguyên Giáp – Huyền thoại bất tận

Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những chiến công lẫy lừng. Bên cạnh đó, có những chuyện ít người biết, gợi băn khoăn pha chút tò mò với những người kính yêu Đại tướng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 102 tuổi

Ngày 25/8/2012, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn đại thọ 101 tuổi. Đại tướng được toàn thể nhân dân Việt Nam, bạn bè quốc tế và cả đối phương yêu quý, kính nể gọi ông là “vị tướng thần thoại”.

Đại tướng chưa bao giờ treo chữ “Nhẫn”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi tiếng là người làm việc bền bỉ, không ngừng nghỉ. Nhiều cán bộ làm việc trong Văn phòng Đại tướng đã phải thốt lên “sao lại có người làm việc trí óc với cường độ lớn đến thế” khi thấy ông làm việc suốt ngày suốt đêm, không nghỉ chủ nhật.

Trước tin đồn về việc phòng làm việc của Đại tướng có treo chữ “Nhẫn”, trả lời Vietnam+, Đại tá Nguyễn Huyên, người trợ lý đã gắn bó với tướng Giáp gần 40 năm (trong đó gần 20 năm phụ trách văn phòng của Đại tướng), khẳng định: “Chuyện nói Đại tướng treo chữ “nhẫn” là hoàn toàn bịa đặt. Đại tướng không hề treo chữ đó”.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Bên cạnh thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương sáng về đạo đức.

Đại tá Nguyễn Huyên cho biết thêm: Một lần có người yêu kính Đại tướng muốn tặng anh chữ “Nhẫn” thư pháp lồng trong khung kính. Trước khi tặng, người đó có đến hỏi đại tá Nguyễn Huyên và ông đã nói với người này về hai cách hiểu chữ “nhẫn”. Thứ nhất có nghĩa là kiên nhẫn, nhẫn nại nhưng cũng có nghĩa thứ hai là nhẫn nhục. Đại tướng chưa bao giờ là người chịu nhẫn nhục theo cách hiểu thứ hai. Vì vậy, không nên tặng Đại tướng chữ “nhẫn” vì có thể làm cho người ta hiểu sai lệch hoặc có kẻ xuyên tạc.

Là người nhiều năm làm việc bên cạnh Đại tướng, đại tá Nguyễn Huyên rất hiểu tướng Giáp. Ông cho biết, Đại tướng ghét nhất là xu nịnh. Những ai cứ khúm núm, nói theo, nói cho vừa ý cấp trên không có chính kiến rõ ràng là Đại tướng không thích. “Có câu chuyện thế này: Tôi nhớ một hôm có đồng chí cán bộ cấp cao đi nước ngoài về đến thăm anh, nói với anh: “Người như Đại tướng thì ở bên đó người ta dựng tượng lâu rồi đấy ạ!” Anh nghe đến đấy liền hỏi: “Anh nói cái gì vậy! Đó là việc của người ta.”, đại tá Huyên kể.

“Nghề tay trái” của tướng Giáp

Có một chi tiết thú vị ít người biết, trong những năm 1936 – 1939, Đại tướng dành phần lớn thời gian cho hoạt động báo chí. Chi tiết này đã đem đến một góc nhìn khác về vị tướng huyền thoại: Nhà báo Võ Nguyên Giáp.

Võ Nguyên Giáp làm báo với các bút danh Hải Thanh, Vân Đình… Trước năm 1936, ông đã bắt đầu viết báo và có nhiều bài được đăng. Năm 1929, Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh đã viết bài “Vũ trụ và tấn hoá” đăng trên hai số 218 (ngày 28/9/1929) và 222 (ngày 10/10/1929) trên báo “Tiếng Dân”, tờ báo lớn nhất xứ Trung Kỳ lúc đó do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút.

Nhân sự việc Giám đốc trường Quốc học Huế đuổi một số học sinh của trường do tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu (6/1925), Võ Nguyên Giáp viết ngay một bài báo bằng tiếng Pháp “Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học” gửi đăng báo L’Annau ở Sài Gòn. Lúc ấy, Luật sư Phan Văn Trường đang làm chủ bút tờ báo này đã phải thốt lên: “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Pari”.

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo "Tiếng Dân" (1929 - 1930).

Một số bài báo của Võ Nguyên Giáp với bút danh Hải Thanh, Vân Đình trên báo “Tiếng Dân” (1929 – 1930).

Theo Trung tướng Phạm Hồng Cư, anh em đồng hao với Đại tướng, Võ Nguyên Giáp thực sự tập trung làm báo từ năm 1936 khi ông cùng với Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hải Triều… mua lại và làm hồi sinh báo “Hồn Trẻ” đang ngừng xuất bản do thua lỗ. Có thể nói đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên công khai cổ động đấu tranh cho các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, đòi đại xá chính trị phạm… Báo rất được bạn đọc hoan nghênh, in ra không đủ bán. Báo ra đến số 5 thì bị nhà cầm quyền thực dân Pháp đóng cửa. Tuy nhiên đây là tiếng chuông báo hiệu phong trào hoạt động báo chí công khai của Mặt trận Dân chủ Đông Dương trong thời kỳ 1936 – 1939.

Không thể sớm có một tờ báo tiếng Việt trong tình hình ấy, Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí quyết định cho ra một tờ báo tiếng Pháp. Ngày 16/9/1936, báo Le Travail (Lao động) ra số đầu tiên. Võ Nguyên Giáp làm biên tập viên chính, được phân công viết khá nhiều đề tài: cổ vũ Đông Dương đại hội, Mặt trận Dân chủ, thời sự quốc tế, đời sống nông dân với các cuộc đấu tranh ruộng đất như Cồn Thoi, những cuộc đấu tranh bãi công của thợ xẻ, thợ giày, thợ mỏ…

Trung tướng Phạm Hồng Cư cho biết thêm: “Thời gian này, anh Giáp làm việc rất hào hứng, mặc dù sức khỏe của anh không tốt cho lắm. Nghe tin có cuộc bãi công lớn của công nhân vùng mỏ, anh đã đạp xe 200km từ Hà Nội về tới Cẩm Phả để viết bài đăng báo… Le Travail tồn tại được 7 tháng với 30 số báo. Ngày 16/4/1937, nhà cầm quyền thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa”.

Võ Nguyên Giáp vẫn tích cực tham gia viết bài cho các báo: Tin tức, Thế giới, Hà thành, Thời báo, Đời nay, Ngày mới… và một số tờ báo tiếng Pháp. Hàng loạt bài viết của Võ Nguyên Giáp nhằm tố cáo sự bóc lột dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam đã gây tiếng vang lớn trong đông đảo người đọc thời bấy giờ.

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: "Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng".

Đại tướng, Nhà báo Võ Nguyên Giáp: “Tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng”.

Trong công việc báo chí, Võ Nguyên Giáp đã trải qua hầu hết các khâu của nghề báo, từ viết xã luận, thời đàm nghị luận, điều tra, phóng sự, biên tập, duyệt bài, sắp xếp nội dung, cho tới bố cục, lên trang, trình bày, đưa nhà in, sửa morasse và không ít khi cả việc phát hành báo. Có những kỷ niệm khó quên trong đời làm báo của Đại tướng. Có lần cùng một lúc, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam đều bận việc đột xuất không kịp viết bài, Võ Nguyên Giáp ngồi từ 6h chiều đến 6h sáng hôm sau, viết kín một thếp giấy 48 trang và bố cục, trình bày xong cả một số báo cho kịp đưa xuống nhà in, sau khi ăn điểm tâm, lại tới Trường Thăng Long dạy học.

Những năm đất nước đổi mới, các bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn được công chúng đón đợi. Ngày 10/9/2007, trên báo Sài Gòn Giải Phóng xuất hiện bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tiêu đề: “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” gây chấn động dư luận, đặc biệt hơn lúc này tác giả đã vào tuổi 97.

Năm 1991, Hội Nhà báo Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt Nam dành cho những người đã có từ 25 năm làm báo trở lên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đón nhận phần thưởng này với niềm tự hào. Nhân dịp này, Đại tướng đã chia sẻ về nghề báo trong bài báo “Mười lăm năm làm báo trước Cách mạng tháng Tám”, đăng trên tạp chí Nhà báo và Công luận số tháng 8/1991 như sau:

“Nghề báo là một nghệ thuật đầy hứng thú. Sau này, khi chuyển qua công tác quân sự, tôi thấy làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Đó là một công việc luôn luôn khẩn trương, phải phát hiện kịp thời mưu đồ, thủ đoạn của giai cấp thống trị, yêu cầu, tâm lý đa dạng và thường xuyên thay đổi của bạn đọc, nguyện vọng sâu xa của nhân dân, để biết mình phải làm gì…”.

Đất Việt

 

 

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 102 tuổi

25/08/2012 2 comments

Ngày 24-8, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến Quân y viện 108, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang dưỡng bệnh, để chúc thọ vị đại tướng 102 tuổi (25-8-1911 – 25-8-2012), người đảng viên trung kiên, người lính già anh dũng của dân tộc, tin từ văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết.

Cùng ngày, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam được sự ủy nhiệm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến Quân y viện 108 thăm và chúc mừng đại tướng.

Trong suốt tuần qua, hàng chục đoàn cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh đã đến nhà riêng của đại tướng để chúc mừng đại thọ vị tướng yêu quý của mình.

* “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cựu chiến binh” là tên triển lãm ảnh tổ chức nhân sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 102 tuổi tại nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội. 102 bức ảnh về những khoảnh khắc đáng nhớ của đại tướng và các cựu chiến binh là một phần trong số tài sản ảnh của nhiếp ảnh gia – cũng là một người lính – trung tá Nguyễn Trọng Nghị. Tính ra, nhiếp ảnh gia Nguyễn Trọng Nghị đã có 15 năm chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

* Sáng nay 25-8 tại Bảo tàng Cách mạng VN, Hội Khoa học lịch sử tổ chức cuộc tọa đàm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp với những đóng góp trong lịch sử quân sự VN và những giá trị nhân văn trong đường lối quân sự của ông.

Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông chỉ huy chính trong chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975). Ông tham gia vào nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Hồ Chí Minh trong suốt cuộc chiến và lãnh đạo nhiều chiến dịch lớn cho đến khi chiến tranh kết thúc.